Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

Thêm một lần chia tay

(Các con sẽ chia tay căn nhà rất ấm cúng này)

THÊM MỘT LẦN CHIA TAY

Đã ôm ấp bao đêm

Để mùa đông này

Gối chăn đôi người, đôi ngả.

Em dang tay đón anh sau ngày vất vả

Cho anh tĩnh lặng đêm

Nhè nhẹ hơi thở gió trời.

Tiếng cuộc đời thầm thì

Trên tường chiếc đồng hồ thầm nhắc.

Mùa đông không em chở che anh gió bấc

Anh lưu luyến chia ly

Xa tiếng thạch sùng nấc trong đêm vắng

Xa nỗi nhớ quê vọng tiếng gà

Mỗi ban mai cửa sổ mở ra

Nhớ ánh đèn thấp thoáng.

Giờ anh và em bỗng trở thành xa lắm

Em về với người ta

Trong anh nỗi bâng khuâng

Hoài niệm về một ngôi nhà

Thương lũ thiêu thân dưới đèn nhớ sáng…

5-11-2009

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Gửu về Bạc Liêu


Chiều Hà Nội man mác mưa
Sương buông phố mờ se lạnh
Tôi tìm góc quán thanh thản
Gởi nhớ đến người Bạc Liêu.


Nào ai đã biết chi nhiều
Chỉ một lần qua nơi ấy
Đôi mắt em tha thiết vậy
Nụ cười gửi miệt vườn xanh.


Người xinh bước đi không đành
Muốn hóa mình làm công tử
Đốt bao nhiêu là con chữ
Có tìm chút được tình em?


Lại về với góc quán quen
Uống cả mùa thu miền Bắc
Mềm môi mà lòng vẫn nhắc
Nồng nàn men rượu Bạc Liêu...
12-9-2009

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Về làng lụa Hà Đông

Về làng lụa Hà Đông

Người ơi má hồng

Tay mềm gió thu

Mây bay như sương vào phố.

Đường xưa ngõ nhỏ

Thôi ngón chân bấm mưa tháng bảy mùa Ngâu.

Em bây giờ ở đâu

Tơ trời dệt nỗi nhớ người xa xứ

Áo lụa nhớ ai mắt xa xăm làng cũ

Tiếng thoi mắc vầng trăng nghiêng

Níu anh vào miền thao thức

Xao xác tiếng gà tàn đêm...

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Nhớ Ngâu

Vào mùa tháng bảy nhớ Ngâu
Mưa xưa chẳng thấy để rầu lòng ai.
Lặng nghe rơi giọt sương mai
Chân trời xanh rộng lại ngày nắng nung.

Cầu Ô thước nối nhớ nhung
Bao năm xa cách ở cùng tháng thôi
Gặp nhau để nước mắt rơi
Mây trôi nỗi nhớ bên trời vẫn khô...
7-7 âm lịch
(Mùa Ngâu mà không mưa Ngâu)

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2009

Cảm nhận về bài thơ "Tíếng sóng sông quê"

TIẾNG SÓNG SÔNG QUÊ

Tôi lặng nghe như có tiếng sóng xô
Từng đợt trào dâng
Những đêm không ngủ nhớ quê
Sông hiện trong mơ
Vỗ trong lòng tôi, tiếng sóng...

Mẹ tôi dáng tất bật trên đê
Con thường ra ngõ đợi mẹ về
Bao năm xa rồi vẫn nhớ
Sông và mẹ một đời lam lũ
Tiếng sóng hòa vào lời ru.

Mẹ tôi chiếc áo bạc màu gió sương
Sớm, chiều mẹ đi về con không nhìn rõ mặt
Tiếng sóng cồn cào, mùa đông lạnh cắt
Mẹ như bên bờ lở
Cho bờ lòng con bồi lớp lớp phù sa.

Mẹ lo những ngày tháng ba
Gánh rau vườn nặng vai người phiên chợ
Ruộng xác xơ gốc rạ mùa nước lên, tôi nhớ
Nắng rám trái bòng tháng tám gió heo may.

Mẹ sống những năm mong tháng đợi ngày
Niềm vui chưa trọn lại chia tay chồng ra trận
Mang nặng đẻ đau mẹ sinh mấy bận
Một bóng một đèn như cánh cò trắng bên sông.

Mẹ là dòng sông trong con nguồn cội
Bốn mùa nước chảy giữa lòng quê hương
Bốn mùa yêu thương suốt đời khắc khoải
Tiếng sóng sông quê vỗ bờ vọng mãi
Mẹ là quê hương trong lòng con.
12-1997

Nguyễn Đình Xuân

----------------------------------------------------------------------------

Đây là một trong rất nhiều bài thơ viết về Mẹ của Nguyễn Đình Xuân. Trong tập thơ “Tiếng sóng sông quê” có rất nhiều bài thơ về Mẹ, và bạn sẽ thấy hình ảnh của người Mẹ hiện lên trong thơ rất dung dị và gần gũi thân thương.

Tôi rất thích những câu thơ như rút ruột của anh:

Mẹ lo những ngày tháng ba
Gánh rau vườn nặng vai người phiên chợ
Ruộng xác xơ gốc rạ mùa nước lên, tôi nhớ
Nắng rám trái bòng tháng tám gió heo may.

Trong thơ, tác giả đã để mẹ hiện ra bình dị như bao người mẹ Việt Nam , hình ảnh người mẹ “tất bật trên đê, chiếc áo bạc màu gió sương, sớm, chiều mẹ đi về con không nhìn rõ mặt”… tất cả hình như khắc sâu vào tâm trí Xuân khiến không anh không bao giờ quên…

Tôi cũng rất thích khổ thơ:

Mẹ sống những năm mong tháng đợi ngày
Niềm vui chưa trọn lại chia tay chồng ra trận
Mang nặng đẻ đau mẹ sinh mấy bận
Một bóng một đèn như cánh cò trắng bên sông.

Và theo tôi, hình ảnh đắt nhất trong bài thơ là: “Một bóng đèn như cánh cò trắng bên sông”.

Vượt qua sáo mòn của hình tượng người mẹ như bóng cây, bàn tay, Nguyễn Đình Xuân lại ví mẹ mình là dòng sông:

Mẹ như bên bở lở

Cho bờ lòng con bồi lớp lớp phù sa

hoặc:

Mẹ là dòng sông trong con nguồn cội
Bốn mùa nước chảy giữa lòng quê hương
Bốn mùa yêu thương suốt đời khắc khoải
Tiếng sóng sông quê vỗ bờ vọng mãi
Mẹ là quê hương trong lòng con.

Ở bài thơ này, khổ đầu còn hơi sáo, không đặc sắc. Nếu có thể đảo khổ đầu xuống dưới cuối cùng (dĩ nhiên có sửa lại) như một vĩ thanh về một tiếng sóng của sông quê hương… Tuy nhiên, khổ đầu đóng vai trò là lời dẫn, tuy không hay lắm nhưng cũng đã tròn vai. Hình ảnh người mẹ được khắc hoạ trong thơ chưa đặc sắc dễ lẫn với muôn vàn người mẹ khác. Đối với người làm thơ mà không chọn được những hình “đắt” thì người đọc sẽ có quyền “nghi ngờ” tác giả chưa lao động cật lực cho thơ…

Có những bài thơ hay một tác phẩm nghệ thuật chỉ “đứng” được khi người thưởng thức biết được hoàn cảnh ra đời của nó, còn bài thơ “Tiếng sóng sông quê” một mình nó cũng đứng được độc lập, nên tôi cho rằng bài thơ này sẽ được nhiều người đồng cảm với tác giả…

Chu Mỹ Lệ

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009

Sức hấp dẫn của "Trại hoa đỏ"



(Các nhà văn trong buổi tọa đàm tác phẩm của Di Li)


Tôi đọc chậm tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” của Di Li (tên thật Nguyễn Diệu Linh, NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2009). Vừa đọc vừa cảm nhận vẻ đẹp trong từng trang viết, về khung cảnh đa sắc, đa âm mà tác giả miêu tả. Ở đó có tiếng sáo ma quái, sự huyền bí của ngôi nhà cổ, nét thâm u của hang đá dưới tượng Cụt Đầu, những cánh rừng thiên nhiên và nhân tạo... Đọc xong “Trại hoa đỏ”, tôi có cảm giác như mình vừa bước ra từ một ma trận mà Di Li đã bày ra. Rồi lại tự muốn đi vào trong ma trận ấy để tôi gặp lại những cảm xúc qua từng trang sách. Hơn 430 trang sách khổ lớn (kích thước 16x24cm), đã là sự ghi nhận sự lao động, sáng tạo bền bỉ của tác giả, song, điều đáng nói là Di Li đã tạo nên ấn tượng không dễ quên. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” không chỉ là chủ đề trinh thám-kinh dị, mà còn là sự khéo léo trong bố trí các tuyến nhân vật, cách miêu tả cảnh vật tài tình và lối viết trong sáng, khơi gợi cảm xúc cho người đọc.




Câu chuyện bắt đầu từ hành trình của gia đình Mai Diên Vĩ lên tham quan một vùng đất hoang sơ, nơi được chồng chị-Phan Hoàng Lưu mua làm trang trại để tặng sinh nhật vợ. Ngay buổi đầu tiên khi đến vùng đất để lập trang trại, vợ chồng Vĩ-Lưu đã gặp giông gió, mưa sa. Rồi những diễn biến hãi hùng ở trang trại mang tên “Trại hoa đỏ” với những cái chết bí ẩn, những cái xác mang nguyên trang phục trong ngôi nhà họ Quách, bộ xương người con gái trong trang phục màu đen dưới lòng hang đá Cụt Đầu; những hồn ma “tung tóe” máu, bóng loài chó rừng đen thoắt ẩn thoắt hiện, hay tiếng loài chim chết rợn người, những hình nhân vấy máu... Thêm những hình ảnh kinh dị được Di Li miêu tả về ngôi nhà của Thiếu tá công an Đỗ Quang Huy trong đêm anh bị sát hại. Những trang viết về kẻ điên dại của dòng họ Quách, nét ma quái của lão thày Mo, sự khó hiểu của đôi vợ chồng già sống trong trang trại... Đại úy Phan Đăng Bách là người tình cờ đến dự lễ khánh thành Trại Hoa đỏ của vợ chồng Diên Vĩ, rồi được thông báo về những cái chết bí ẩn ở trại. Anh lặng lẽ điều tra về những cái chết ấy, trong khi đảm nhận điều tra về băng nhóm tội phạm nhí và phối hợp cùng với nữ Đại úy công an Mai Thanh điều tra về cái chết của Thiếu tá Đỗ Quang Huy. Di Li cố gắng khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật Phan Đăng Bách, Mai Thanh, những điểm sáng trong tuyến nhân vật chính diện của tiểu thuyết. Nhưng ở từng trường đoạn hay đoản văn, Di Li khiến người đọc bị ám ảnh từ diễn biến câu chuyện kết hợp với sự huyền bí thông qua cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên xung quanh. Sự kết hợp phản ánh tâm lý nhân vật với sự huyền bí thiên nhiên, bóng hình ma quái và chất trữ tình siêu thực, nhất là khi chuyển đoạn, chuyển chương tạo cho tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” thêm cuốn hút độc giả.

Chọn thể tài trinh thám-kinh dị cho tiểu thuyết “Trại hoa đỏ”, tự thân thể loại đã tạo nên sự hấp dẫn. Trên thế giới đã có nhiều nhà văn thành công với thể loại tiểu thuyết văn học trinh thám-kinh dị, tác phẩm của họ luôn có số lượng phát hành cao trên thị trường. Ở nước ta, văn học trinh thám-kinh dị ra đời từ rất sớm, với điển hình là “Liêu trai chí dị”. Trước năm 1945, văn học nước nhà đã có những chuyện ma quái, rùng rợn của Thế Lữ, Đái Đức Tuấn. Sau đó, thể tài trinh thám-kinh dị chưa được các nhà văn chú trọng sáng tác, mà tập trung cho thể loại tiểu thuyết tình báo-phản gián và hình sự. Sự thiếu hụt ấy được Di Li bổ sung với tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” và các truyện ngắn trong các tập “Tầng thứ nhất”, “Điệu valse địa ngục”, “Bảy ngày trên sa mạc”. Thành công của Di Li sẽ là sự khích lệ cho nhiều nhà văn sáng tác ở thể loại này.

Ở “Trại hoa đỏ”, Di Li tạo được sự hấp dẫn trước hết ở việc xây dựng các tuyến nhân vật, đặc trưng từng nhân vật thông qua tâm lý, hành động và đặc điểm hình dáng, tính cách. Dù là nhân vật chính, nhân vật phụ hay thoảng qua, có khi là con người, loài động vật hay loài sinh vật hoang dại, sự vật đều tạo được ấn tượng cho bạn đọc qua cách xây dựng và miêu tả của tác giả. Hình ảnh người chiến sĩ công an là chủ thể của tuyến nhân vật chính diện thông qua Phan Đăng Bách, Mai Thanh, Trung tá Phả, điều tra viên Lãm. Còn có những người tốt như bác sĩ Khang, người mẹ miền Trung, A Cách. Tuyến phản diện đặc trưng là những con người xảo quyệt như Phan Hoàng Lưu, Phạm Văn Sương, lão thày Mo, Ráy, kẻ đội lốt công an Trịnh Huy Bình, Kahlil Tan. Diên Vĩ là nhân vật chính tiêu biểu của những nạn nhân bị cái ác trà đạp và sự tắc trách của một bộ phận người có trách nhiệm làm công tác quản lý. Cô sinh ra từ người mẹ bất hạnh với người bố vũ phu, bất hảo. Rồi cô bị cộng đồng ruồng bỏ ngay từ cái làng quê nghèo, đến việc vào trại người điên, để có những định kiến sau lần xảy ra sự việc với Sương ở ký túc xá để phải đuổi khỏi trường đại học. Còn những nạn nhân khác mỗi người một hoàn cảnh như Di, Bi-nốt-ruồi, Gã điên và người con gái cuối cùng của dòng họ Quách, vợ chồng bà Miến-A Bằng v.v.. Thông qua miêu tả, bạn đọc hình dung được tính cách của các nạn nhân bị giết chết như Đỗ Quang Huy, Trần Đàm Anh, Lý Minh Văn. Có hai nhân vật đặc biệt trong tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” không thể không nhắc tới, đó là bé Bảo và chú chó Lucky. Bé bảo hồn nhiên, dù sinh ra trong sự bất hạnh: mắt khuyết tật, mẹ bị giết, nhưng chính từ những trò chơi, cảm giác của bé Bảo đã làm cho câu chuyện hấp dẫn. Chú chó Lucky, xuất thân là loài chó hoang, khi được cảm hóa đã có những hành động như con người đầy nghĩa khí và trung thành. Từng nhân vật, mỗi người một vẻ, qua ngòi bút của Di Li trở nên sinh động, cuốn hút người đọc.

Trong “Trại hoa đỏ” Di Li đã ít nhiều thành công trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật như Đại úy Phan Đăng Bách, Mai Thanh, Trung tá Phả và Thiếu tá Đỗ Quang Huy, Người Trưởng phòng điều tra nghiêm khắc. Ở Phan Đăng Bách là một sĩ quan công an cần mẫn trong điều tra, cố gắng để tích lũy kinh nghiệm nghiệp vụ, tạo cho mình có một “trực giác” tốt để tự khẳng định mình trong công việc. Còn Mai Thanh là một nữ công an tâm huyết với nghề, có sự thông minh đến lạnh lùng. Trung tá Phả với hàm răng vàng, cái miệng cười rất “đặc biệt”, là một con người chân chất, tận tụy công việc, dễ để bạn đọc nhớ nhất là chi tiết đã quá nửa đêm tìm được manh mối của đứa trẻ đầu tiên bị bắt cóc ở vùng Trại hoa đỏ đã gọi điện cho Phan Đăng Bách. Những nhân vật như Thiếu tá Huy, Người trưởng phòng điều tra, Điều tra viên Lãm... dù chỉ thoáng qua, nhưng cũng thấy đó là những con người vì công việc, dám hy sinh cả tính mạng mình để đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ bình yên cuộc sống nhân dân. Nhưng cũng qua việc xây dựng hình ảnh người chiến sĩ công an, cho thấy, tác giả còn chưa thật hiểu về nghiệp vụ, nguyên tắc, tính lô-gic trong điều tra, dẫn đến xử lý các vụ việc đơn giản. Có lẽ, Di Li còn thiếu vốn sống trong lĩnh vực này.

Các tuyến nhân vật trong “Trại hoa đỏ” xây dựng đan xen nhau, trình tự, kết cấu theo chương mục nên bạn đọc dễ theo dõi câu chuyện. Di Li cố gắng đưa người đọc vào ma trận, nhưng lại vẽ một con đường thẳng để bạn đọc đi vào ma trận ấy, khiến “Trại hoa đỏ” có kết thúc rõ ràng, chưa thực sự làm thỏa mãn bạn đọc. Điểm yếu dễ nhận thấy ở tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” là tác giả đã “nhân tạo hóa” khung cảnh, sự vật, miêu tả nhiều lời, có nhiều chỗ người đọc cảm thấy như tác giả quanh quẩn, lúng túng với chính các khung cảnh mình vẽ ra. Có thể, Di Li cố gắng bám theo quan niệm “Ở nơi nào có con người, ở nơi đó có tình yêu và lòng trung thành. Còn cũng ở nơi nào có con người, ở nơi đó còn tồn tại sự độc ác, nham hiểm và phản trắc”, nên cách xây dựng nhân vật, giải quyết những mẫu thuẫn, xử lý các tình huống cũng trở nên gò bó, chưa thật sự đắc địa. Cách Di Li xử lý những trạng huống tâm lý của Diên Vĩ khi vào ma trận rừng nhân tạo, dấn chân vào ngôi nhà cổ, lục lọi trong lòng hang dưới tượng hình Người Cụt Đầu... chưa thật phù hợp, dường như là cố gắng ma quái hóa để truyện ly kỳ hơn. Tuy nhiên, bạn đọc dễ chấp nhận bởi sự hấp dẫn, lý thú qua cách miêu tả thiên nhiên, cảnh vật, âm thanh rất trữ tình của “Trại hoa đỏ”.

Một tiểu thuyết đầu tay dày dặn, tiên phong trong thể loại trinh thám-kinh dị, là thành công của Di Li, đưa cô trở thành một trong những nhà văn trẻ nổi bật, tài năng và rất tiềm tàng công lực trong ngôi nhà văn học nước ta. Từ “Trại hoa đỏ” và những tập truyện ngắn đã xuất bản, tôi tin Di Li sẽ tiếp tục thành công trên con đường sáng tác của mình và đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm xuất sắc.

8-2009

Bạn đọc tặng hoa cho nhà văn Di Li



Di Li và con gái

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG "ĐÔNG TIỀN LÁ ĐA"

Mỗi lần về quê ngoại, đi bên dòng sông Phó Đáy, qua những xóm làng trung du vùng Lập Thạch, tôi lại nhớ về những thân phận con người, ngỡ như được gặp những ông Thống, bà Cần, bà Miên, lão Vận, bác Đống, dì Vân, anh Nhân, chị Thân, chị Xuyến… Đấy là những nhân vật đã ám ảnh tôi khi đọc xong tập truyện ngắn và ký “Đồng tiền lá đa” của Trọng Bảo do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2008.

19 truyện ngắn trong “Đồng tiền lá đa” phản ánh đa chiều những vấn đề xã hội, từ trong lịch sử đến đời sống hiện tại. Ở đó có sự phát triển, đổi thay của làng quê nhờ công cuộc đổi mới đất nước, có những mặt tiêu cực do tác động của nền kinh tế thị trường, có tệ nạn xã hội và những con người man trá, xảo quyệt, lọc lừa… Nhưng chủ đề xuyên suốt trong “Đồng tiền lá đa” là những thân phận con người sau chiến tranh, những người đã chịu đựng đau thương, mất mát trong những cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dễ hiểu trong “Đồng tiền lá đa” chiếm đa số truyện viết về chiến tranh và người lính, bởi tác giả tên thật là Hà Trọng Bảo, hiện là Đại tá, Trưởng phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhà văn quân đội Bùi Thanh Minh sau khi đọc “Đồng tiền lá đa” nhận xét: “Tập truyện vẫn đi theo mạch văn viết về những mảnh đời, thân phận con người sau chiến tranh. (…) Những tấm huân chương rồi cũng sẽ phai màu, mồ liệt sĩ trong nghĩa trang chìm dần vào trong cỏ. Nhưng chiến tranh thì vẫn cứ hiện hữu hàng ngày trong những con người đã từng tham chiến hay có mặt trong thời điểm ấy. Dù họ trở về từ chiến trường hoặc ở hậu phương…” Với Trọng Bảo, anh phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh thông qua những câu chuyện không phải trực tiếp có tiếng bom rơi, đạn nổ. Đấy là những nỗi đau dằn vặt trong lòng ông Thống, chỉ vì kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến đấu mà Đại-một chiến sĩ bộ đội chủ lực và cô Thắm, người yêu của anh bị địch giết chết. Từ đó ông Thống trở nên lầm lì, ít nói, chôn chặt nỗi đau trong lòng, chỉ đến ngày tết, thanh minh đi tảo mộ, ông mới lầm rầm tâm sự trong lời khấn người đã khuất. Nhưng ông cũng kiên quyết không ký xác nhận công nhận liệt sĩ cho Đại, bởi theo ông, Đại chết là do vô kỷ luật. (Thanh Minh). Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trong một ngõ nhỏ của làng Vũ, thôn Đoài, nơi hai người đàn bà là bà Miên và bà Cần cùng có con trai nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ và cả hai cùng hy sinh. Bà Cần được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được chính quyền, làng xóm quan tâm chăm sóc, trong khi bà Miên phải chịu muôn vàn tủi nhục khi bị mang tiếng là con trai phản quốc. Thêm nữa, có người con trai cả cũng từ mẹ và gia đình có người phản bội để không ảnh hưởng đến con đường tiến thân. Mãi sau này, khi bà Miên được “giải oan”, đón nhận bằng Tổ quốc ghi công cho con trai hy sinh vì Tổ quốc trong khi được quân đội phân công làm nhiệm vụ đặc biệt. Là mẹ liệt sĩ, nhưng bà Miên vẫn sống lặng lẽ giữa xóm làng, nỗi đau oan ức được rũ bỏ, nhưng nỗi đau chiến tranh có lúc nào nguôi ngoai. (Ngõ nhỏ).

Những thân phận và nỗi đau chiến tranh được Trọng Bảo phản ánh ở những truyện ngắn mà đọc xong thấy day dứt không nguôi. Lão Vận trong “Người thổi tù và trên bến sông”, chị Thân trong “Chợ chiều”, dì Vân trong “Những lá thư”, chị Xuyến trong truyện cùng tên… Những con người đã sống trong cảnh đời bất hạnh ở một vùng quê yên ả, thanh bình và mỗi người có mỗi số phận và nỗi đau riêng. Ông Vận vốn làm nghề chèo đò, sống lặng lẽ trong túp lều nhỏ trên bến sông, khi người ta xây cây cầu thì lão trở thành người quét chợ. Lão sống vật vờ, không còn người thân vì vợ con lão đã chết bởi bom Mỹ, chỉ còn có con chó mà lão cứu được khi nó bị thả trôi sông là thân thiết. Chỉ đến khi người Bí thư Tỉnh ủy trở lại bến đò xưa, nhớ đến người lái đò, thì thân phận lão Vận mới được mọi người biết đến, lão là người có công với cách mạng. Còn chị Thân vốn là một trung đội trưởng dân quân, tình yêu nghiệt ngã đưa chị đến với một kẻ Sở Khanh rồi có thai. Sau đó chị đi thanh niên xung phong, hết chiến tranh trở về quê lấy chồng là bộ đội công binh. Trong những năm tháng chiến tranh, chị đã bị nhiễm chất độc da cam/điôxin hay chồng bị nhiễm chị cũng không biết, chỉ có sự thật là đứa con sinh ra bị dị tật, không hình thù người. Chị Thân sống đơn côi dưới chân núi Sáng, không chế độ đãi ngộ. Cuộc đời đau khổ, nhưng chị chấp nhận, không kêu ca, tự kiếm sống để nuôi thân. Còn chuyện của dì Vân thật cảm động, hy sinh cả thời xuân sắc của mình để thay chị động viên người lính yên tâm chiến đấu trên chiến trường. Câu chuyện tình qua những lá thư thấm đẫm nước mắt, có kết cục buồn vì cả dì Vân và người lính đều lẻ bóng trong đời. Chuyện chị Xuyến là một trong những góc khuất của chiến tranh, khi cả người chồng và người tình đều hy sinh ở chiến trường. Đọc truyện, ta dễ cảm thông với chị và thương anh Phán, một thanh niên-người lính thật thà, chất phác phải rơi vào cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”. Nếu không có chiến tranh, khó ai có thể tha thứ cho chị Xuyến.

Số phận người lính và con người sau chiến tranh còn khắc nghiệt hơn nhiều khi đất nước chuyển sang thời cơ chế thị trường, đồng tiền khuynh đảo những giá trị cuộc sống, làm tha hóa một bộ phận con người trong xã hội. Trên đường phát triển đất nước, những khu công nghiệp mới mở, đô thị hóa làm cho giá đất tăng vọt, đồng tiền làm cho những giá trị tình cảm lâu bền trong gia đình bị tan vỡ. Đó là bi kịch trong gia đình bà Chi, một người vợ liệt sĩ, một người dâu hiền, người chị tần tảo hy sinh cả đời cho gia đình nhà chồng. Nỗi đau và sự khắc nghiệt do đồng tiền gây ra đã lột tả trong truyện ngắn “Ngôi nhà giữa phố”. Ngay trong quân đội, những tiêu cực, bất công vô lý cũng xảy ra, điển hình như trong truyện “Cơn mưa cuối chiều”, thật đau đớn khi người vợ lính thốt lên “Nhưng làm gì có chuyện vô lý như thế, thượng úy thì được chia nhà, thượng tá thì không. Chả đơn vị nào người ta lại làm ăn vớ vẩn như thế cả”. Thế mà có chuyện ấy, dù ông Đống-nhân vật trong truyện có thành tích chiến đấu, huân chương, huy chương đầy người. Còn những số phận người lính khác như Nhân, bị thương tật do chiến tranh đến nỗi người đời phải gọi là “Dị Nhân”, có thành tích chiến đấu, sau chiến tranh phải đi làm thuê kiếm sống, nhưng cũng rất bấp bênh, sẵn sàng bị chủ đuổi việc (Dị nhân). Hay chuyện của chị Thùy, người lính vận tải năm xưa sẵn lòng đi làm “ô-sin” ở phố (Chuyện của một thời). Điều đáng quý nhất ở những người lính, đó là lòng tự trọng, họ chấp nhận số phận và không ngừng tự lao động để vươn lên. Tuy không viết về người lính, nhưng truyện ngắn “Đồng tiền lá đa” được tác giả chọn là tiêu đề cả tập truyện nhằm tập trung cho chủ đề: Mỗi con người, mỗi số phận sau chiến tranh, dù phải chịu những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội nhưng vẫn giữ trọn vẹn những giá trị nhân văn, nhân bản của con người, đó là truyền thống tạo nên cội nguồn tinh thần cho mỗi con người, từng gia đình và xã hội.

“Đồng tiền lá đa” thấm đẫm tình đời, tình người. Cách viết của Trọng Bảo chân thật, dễ hiểu, anh để cho từng nội dung câu chuyện gây xúc động cho bạn đọc. Chủ đề của những truyện ngắn trong tập đã được nhiều nhà văn trong và ngoài quân đội khai thác, nhưng Trọng Bảo vẫn tìm được ra cái riêng của mình, đó là sự hồn hậu, trong sáng, gây được ấn tượng với bạn đọc. Khi đọc những dòng hội thoại giữa hai bà mẹ liệt sĩ thế này, ai trong lòng cũng rưng rưng:

“Vịn tay lên mép bàn thờ, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và cái khung kính gài đỏ những huân, huy chương của con, bà Miên chợt kêu lên: -Thôi chết!Chả còn giữ được cái ảnh nào của thằng Thái cả!

Bà Cần lập cập: -Còn… vẫn còn đây! Bà rút từ túi áo ra một tấm ảnh tày ba ngón tay. Thằng Thái chụp chung với thằng Quốc khi mới nhập ngũ. Hai thằng mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, miệng cười toe toét” (Ngõ nhỏ).

Xen kẽ những chuyện về chiến tranh và người lính, Trọng Bảo đã lựa chọn truyện ngắn lịch sử “Bến sông xưa” và những truyện đầy lãng mạn “Hương rừng”, “Mưa rừng”; nói về sự đời, tình người trong “Học trò cũ”, “Chuỗi thời gian”, “Chân trời xa”, “Trang trại ma gà” hay “Truyện viễn tưởng” ở đó có tiếng cười xa xót. Những truyện ngắn trên góp phần làm cho tập truyện không đơn điệu, khô cứng, mà gấp sách lại người đọc không thể quên ngay…

12-2008

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2009

Đi vào "Thăm thẳm cõi người"


Bước vào năm Kỷ Sửu-2009, nhà thơ Hà Cừ tròn một chu kỳ hoa giáp đời người và đủ để anh chiêm nghiệm, nhìn lại đường thơ của mình. Điều đó là dễ hiểu khi anh đặt tên tập thơ riêng thứ ba của mình là "Thăm thẳm cõi người" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2008. Tập hợp 32 bài thơ sáng tác chủ yếu trong ba năm trở lại đây, được chia làm hai phần: "Cõi người" và "Thăm thẳm", cùng với những tự bạch về thơ, thấy anh rất trách nhiệm, nghiêm túc với công việc làm thơ, bền bỉ một đời với thơ. Hà Cừ cũng "vịn vào thơ" để nói nên những suy tư, tình yêu cuộc sống và nghĩ suy về nhân tình thế thái.

Ở khoảng chiều cuộc đời, vào tuổi "tri thiên mệnh" Hà Cừ thấy "rợn" bóng thời gian, nên anh tâm sự: "Rợn mình đã ngoại mấy mươi/Chiều thu nắng quái, nét cười chân chim/Ngửa tay con sóng nổi chìm/Hư vô năm tháng còn in cõi người" (Sóng giữa lòng tay)

Bài thơ này của anh khiến tôi liên tưởng tới nhà thơ Tô Hà-người đã gói cả niềm yêu thơ, một đời thơ vào tập thơ chọn mang cùng tên "Sóng giữa lòng tay". Một đời nổi chìm với những lo toan, vui buồn, với miệt mài sáng tạo. Đã thành quy luật, ai rồi cũng hư vô, trở về cát bụi. Vậy những năm tháng được sống phải sống thế nào, để lại gì in vào "cõi người" trước hư vô? Khi nhìn lại những tấm danh thiếp, chứng nhân của những mối quan hệ, những cuộc quen biết và gặp nhau trên đường đời, anh đã day dứt: "Ta ngồi đếm danh thiếp/Như đếm những vui buồn/Lòng bâng khuâng tự hỏi/"Thiếp nào danh không còn"?(Danh thiếp)

Nhà thơ Hà Cừ nhận thấy giữa dòng đời bon chen có bao điều thật giả lẫn lộn, lộn sòng giữa cái xấu và cái tốt. Có những giá trị giả lại được tôn vinh, đề cao; có người trước danh lợi từ đang thù thành bạn thân, từ mang ân thành kẻ phản phúc. Hà Cừ khi luận bàn về nhân tình, thế thái thường là nêu vấn đề, anh không đi đến cùng mà dành phần nghĩ suy cho bạn đọc. Có khi anh trực diện bàn luận trong các bài "Danh-Lợi", "Danh thiếp", "Mê lộ", "Ai biết". Có khi anh mượn các loài hoa, cả hoa hồng, hoa giấy, hoa giả... Như: "Trọn một kiếp hoa giả/Cũng rực rỡ sắc màu/Cũng cắm trong bình sứ/Thật-giả khác chi nhau"(Hoa giả); "Cứ gọi là hoa giấy/Nhưng phải là giấy đâu?/Cả một đời dâng hiến/Gọi tên là thấy đau!" (Trước giàn hoa giấy).

Cũng như nhiều nhà thơ đã làm, Hà Cừ lấy cảm hứng lịch sử để bàn luận về nhân tình thế thái, xã hội hiện tại, về "cõi người" đang sống. Anh luận về "vọng phu" để nói về tình yêu thời hiện đại; lấy chuyện Gióng lập công lớn, mải đánh giặc Ân mà chưa kịp lo cho mẹ già; là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nhà giáo Chu Văn An, hay Nguyễn Du... mỗi người một khía cạnh để anh bàn thế sự, lòng người. Là nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí, lại là nhà thơ nên đến đâu anh cũng có thơ để ghi những cảm xúc, nói những nghĩ suy của mình, từ chuyện ăn xin ở xứ người, đến tấm tình ở Sa Pa, Tam Đảo. Đặc biệt, khi đến Trung Quốc thăm nhà thờ họ Khổng, anh đã chỉ ra hạn chế ở tư tưởng "trọng nam, khinh nữ": "Khổng Tử mấy nghìn năm vẫn sống giữa cõi người/Có ai biết trên bàn thờ họ Khổng/Mẹ đẻ không thờ-Khổng Tử chỉ thờ cha?"(Gặp ở Khổng miếu).

Đọc Hà Cừ qua các tập thơ "Gió chân mây", "Dòng sông năm tháng" và ở những tập thơ in chung, tôi yêu thích anh ở sự chân thật, dung dị, đằm thắm, nhẹ nhàng và rất tinh tế: "Chợ quê con tép cũng gầy/Con cua, con cá dính đầy bùn tươi" (Chợ quê); hay: "Trời chiều lắc rắc hạt mưa/Bờ tre quyện khói đường thưa bóng người/Bếp nhà ngọn lửa hồng tươi/Mẹ ngồi rang cốm tháng mười cho con" (Ngày xưa hương cốm). Ở "Thăm thẳm cõi người", anh vẫn còn nhiều bài thơ như thế, tuy có trải nghiệm, suy xét nhiều hơn. Dễ hiểu vì chính anh cũng nhận thấy: "Năm tháng qua nhanh/Ta không thể nào ngờ/Cả anh và em bây giờ đã khác" (Tháng năm này không lặp lại đâu em). Và, "Bờ sông sóng vẫn dạt dào/Cỏ xanh dẫn lối lạc vào bến xưa/Giật mình tiếng võng nhẹ đưa/Tiếng bà ru cháu giữa trưa nắng vàng..." (Thăm bến sông xưa).

Trải nghiệm một đời mới thấy lòng người "thăm thẳm". Người bước về xế chiều thường hay nhớ về quá khứ, với những vui buồn, được mất. Hà Cừ cũng vậy. Anh nhớ về dòng sông, bến sông, triền đê, đồng cải quê nhà, nhớ những kỷ niệm thời tuổi trẻ, những miền đất đã đi qua. Anh thổn thức: "Năm trước cùng nhau đi chợ hoa/Năm nay đào đã thắm bên nhà/Thăm thẳm một trời, thăm thẳm gió/Giữa cõi xuân người, ta lạc ta!" (Lạc). Hay: "Sóng vỗ bờ xa, mây trắng bay/Con đường nhuộm tím sắc hoa may/Dấu chân ngày ấy còn lưu giữ?/Triền đê thao thức cỏ dâng đầy!" (Dấu chân trong cỏ). Hà Cừ ngậm ngùi khi lòng người và vạn vật thay đổi bởi thời gian: "Lặng nghe/Trời đất hao gầy/Hoàng hôn/Vàng/Đã rụng đầy/Bến sông/Bờ xa/Cải đã trổ ngồng/Cô đơn/Con sóng vỗ lòng/Người dưng!..." (Sóng). Thơ Hà Cừ trữ tình, tràn đầy niềm cảm thông với những phận người, vì thế dễ lắng đọng trong lòng người đọc: "Chiều hôm/Em bước xuống đò/Gió xô từng đợt/Xé vò bờ lau/Luênh loang/Giọt nắng đổi màu/Có người ngược gió/Gánh sầu/Mòn vai!" (Gió bờ lau).

Trong "Thăm thẳm cõi người", Hà Cừ có nhiều tâm sự về nghề, về thơ, những nỗi truân chuyên của người "phu chữ". Anh viết về nhà văn Phù Thăng để nói về nghiệp văn: "Tôi nhìn ra cánh đồng/Cánh đồng thăm thẳm xanh/Nhìn lên bầu trời/Bầu trời thăm thẳm cao" (Trong một chiều yên lặng). Anh theo đuổi văn chương, nhưng chưa đạt mong muốn, còn trăn trở tìm cho riêng mình con đường sáng tạo, nhất là trong thơ: "Tôi lơ ngơ/Lạc trong vườn ổi/Ngập tràn hương thơm/Không tìm ra/ Quả chín riêng mình/Mùa thu đi qua/Quả chín không còn/Giờ trở lại/Vườn xào xạc lá/ Cây hóa bơ vơ." (Hương ổi vườn xưa).

So với các tập thơ trước của Hà Cừ, "Thăm thẳm cõi người" thâm trầm, chững chạc hơn, tuy nhiên chưa thật sự hay hơn, nhiều bài còn khô cứng do anh "tự loại bớt hoa lá tươi xanh" để " bài thơ gọn lại, câu thơ chắc hơn" (Vũ Quần Phương). Hà Cừ hay hơn ở những bài thơ trữ tình, dung dị, nhẹ nhàng, có chất dân gian truyền thống, vì thế bạn đọc dễ nhớ và dễ thuộc. Anh đã cố gắng làm mới mình, tìm tòi sáng tạo trong từng bài thơ, dễ nhận thấy trong cách ngắt câu của thể thơ lục bát. Trong 32 bài thơ, có đến 28 bài anh sử dụng dấu chấm than (!) và gần bằng đó dấu hỏi chấm(?), ngay cả ở những câu lục bát. Dùng nhiều, nhưng không phải chỗ nào chúng cũng đắc địa, thậm chí còn cản trở cho sự cảm nhận thơ anh của bạn đọc. Bằng sự chiêm nghiệm, vốn sống phong phú, bạn đọc hy vọng ở Hà Cừ trong những tác phẩm mới thâm trầm, sâu lắng và cũng thơ hơn, trữ tình hơn, tránh những triết luận khô cứng mà nhiều người đang cho rằng cách tân, "trí tuệ hóa" thơ./.

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2009

NỖI NHỚ "ĐƯỜNG QUÊ"

Trong rừng thơ lục bát nước Việt Nam ta có rất nhiều bài thơ hay, nhưng tìm được bài thơ mà mình thích cũng không dễ. Cũng là rất tình cờ, tôi đã gặp được bài thơ mà đọc lên, tôi thấy thích. Đó là bài thơ “Đường quê” của tác giả trẻ Vũ Tuấn Anh, đăng trên báo Biên Phòng, số ra tháng Ba năm 2009. Tôi thích bài thơ vì như thấy có mình trong đó, cho tôi nỗi nhớ về một làng quê nghèo khó mà tôi, cũng như nhiều người đã từng sống, đến bây giờ nó đã đổi thay. Nhưng còn lại trên hết là những kỷ niệm một thời, vì sau những năm xây dựng nông thôn mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những sự nghèo khó của làng quê xưa đã trở thành hoài niệm.
Tôi theo “Đường quê” với tác giả để trở lại với cảm giác của người xa quê:
“Đã lâu tôi lại bước đi
Trên đường lát gạch nhẵn lỳ dấu chân”.
Mở đầu bài thơ, tác giả cho bạn đọc nhận thấy về một làng quê cổ kính, nơi có con đường lát gạch “nhẵn lỳ dấu chân”. Thuở xưa, chỉ có những làng quê giàu có hay ngõ vào nhà quan mới có đường lát gạch để đi. Cũng nhiều nơi giữ được phong tục đẹp là trong làng có ai dựng vợ, gả chồng hay có người đỗ đạt thì tự nguyện lát gạch vài mét đường để đi như là sự tri ân bậc sinh thành và bà con làng xóm. Phải từ truyền thống lâu đời của làng quê mình, từ tình yêu trong sâu thẳm con người mới lưu giữ lâu bền nỗi nhớ, để bật lên thành những câu thơ dung dị mà tác giả nhân cách hóa, thông qua hình ảnh “đường nói thì thầm” để giãi bày tâm sự.
Một làng quê nghèo khó cứ dần hiện lên qua những câu thơ rất rõ ràng và cuốn hút người đọc qua những hình ảnh “chân trần”, “buổi trưa đói bụng”, “vai vác chiếc bừa sau trâu”, “bát cơm, manh áo theo vào giấc mơ”… Không ai khi có được sự no ấm lại không nhớ về thuở hàn vi. Mà lạ, cứ nhớ đến thời gian khổ, hình ảnh tuổi thơ, làng quê “chân lấm, tay bùn” lại hiện lên. Cái thời ấy khi người ta sống, phần do cơ cực, cố gắng kiếm miếng cơm, tấm áo, ngỡ chẳng ai nhớ tới. Rồi cả thời học sinh thơ ấu, từ câu thơ viết gửi cho bạn gái giờ ra chơi. Cả tiếng à ơi mẹ ru thời nằm nôi nuôi ta lớn lên. Tất cả đều rất bình thường. Thế mà một chiều trở lại đường quê, sau bao năm phiêu bạt, rong ruổi xứ người, kỷ niệm lại ùa về:
Có còn nhớ ánh trăng sao
Bụi tre hay rặng phi lao từng ngồi...
Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết rất hay và chân thực: “Nơi ta ở chỉ là nơi đất ở-Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Ở Vũ Tuấn Anh cũng vậy, khi đi trên con đường quê, anh mới cụ thể nỗi nhớ, những hoài niệm sau bao năm đi xa của mình. Tất cả những kỷ niệm thời ấu thơ, sự vất vả lam lũ của người quê, những cảnh vật làng quê tác giả đã sống ùa về như còn nguyên vẹn:
Đường quê ơi, vẫn thế thôi!
Vẹn nguyên, thêm chút bồi hồi hôm nay.
Bài thơ nhẹ nhàng nhưng đọc lên thấy lòng xao xuyến và càng đọc, lòng tôi càng nặng những nỗi niềm. Tác giả thể hiện bài thơ bằng mười cặp lục bát, mang âm hưởng dân gian, tạo cho người đọc sự gần gũi và dễ đồng cảm. Sự đồng cảm còn thể hiện trong từng hình ảnh, cảnh vật nơi thôn dã, bằng lời thơ giản dị, dễ hiểu. Tác giả không sử dụng nhiều những kỹ thuật để tạo dựng nên bài thơ mà cứ để cảm xúc tự lột tả ý tứ, suy nghĩ của mình. Người đọc nhận ra sự chân thật, chân thành của tác giả mà dễ tha thứ cho sự tản mạn và nhiều lời của bài thơ. Những điệp từ “để xem”, “có còn” trong bài thơ là ví dụ, vì “xem” là đã bày ra trước mắt, đã thấy, sử dụng ngôn từ như thế là chưa chặt chẽ. Thường người ta cảm nhận nỗi nhớ, niềm thương bằng những cung bậc riêng, sâu kín chứ không nói “để xem còn thương người thân”, hay “để xem cảnh nghèo”. Ngay cả việc dùng câu “Để xem hơi đất mỡ màu” cũng là chưa ổn khi dụng từ “xem”. Tuy nhiên, bài thơ tạo cho người đọc sự rung động hồn nhiên, thấm được hồn quê nên những câu chữ còn dùng sai như trên dễ được tha bổng./.


23-3-2009
--------------------


ĐƯỜNG QUÊ

Vũ Tuấn Anh
Đã lâu tôi lại bước đi
Trên đường lát gạch nhẵn lỳ dấu chân
Hình như đường nói thì thầm
Bảo tôi cứ để chân trần như xưa.
Để xem còn nhớ buổi trưa
Đói bụng, vai vác chiếc bừa sau trâu
Để xem hơi đất mỡ màu
Còn làm mát dịu mười đầu ngón chân
Để xem còn thương người thân
Sớm trưa cầy cấy, chuyên cần, gieo neo
Để xem còn nhớ cảnh nghèo
Bát cơm, manh áo theo vào giấc mơ
Để xem còn nhớ câu thơ
Gửi cho bạn gái trong giờ ra chơi
Có còn nhớ tiếng à ơi
Lời ru của mẹ đưa nôi thuở nào
Có còn nhớ ánh trăng sao
Bụi tre, hay rặng phi lao từng ngồi...

Đường quê ơi, vẫn thế thôi !
Vẹn nguyên, thêm chút bồi hồi hôm nay.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

Cảm nhận về "Tíếng sóng sông quê"

Nhà báo Đỗ Hương đang công tác tại báo Thể thao ngày nay-Văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh. Chị còn là một hoạ sĩ, đã có nhiều bức tranh của chị gây được sự chú ý. Nguyễn Đình Xuân xin trân trọng giới thiệu bài viết của chị về tập thơ Tiếng sóng sông quê, do NXB Quân đội nhân dân ấn hành quý 1-2009. Tác giả tập thơ chân thành cảm ơn chị Đỗ Hương và bạn đọc thân thiết của tôi.

---------------------------------------


Đánh thức trong tôi ngỡ ngàng

Ai mang quê mình ra phố

Chợt rền tiếng xe máy nổ

Như thấy khấp khểnh đường làng.

…

Chị đọc thơ em đêm 23 tháng năm âm lịch, nóng giật thái dương, trương hai con mắt. Ly cà phê chị vừa pha tan loãng trong đá lạnh – vẩn vơ chị thấy cậu trai làng ra phố… ngẩn ngơ.

Rồi chị thấy em đi chiến dịch trong mơ…

Đi qua bao rừng bao suối

Bồi hồi tìm dấu chân cha

Áo xanh ra từ khói lửa

Giật mình xao xác tiếng gà…

Chị thấy em hồn hậu mơ – hồn nhiên yêu – câu chữ viết ấm như hương lúa chín - như người đàn ông dễ tính chỉ biết yêu thương - cày cuốc xong dụi chân vào chổi – đánh giấc ngủ khoan thai giữa tiếng ầu ơ ru con của vợ - tiếng dế ỉ ôi khi hoàng hôn buông cùng tiếng chão chuộc ộp oàng - rộn ràng là quê hương máu thịt.

Những gì tâm đắc nhất

Chắt lọc từ hồn ra

Đưa vào từng trang viết

Chợt bình minh tiếng gà

Em kể chuyện chiến tranh – chia ly và buồn nhớ

“Khi ấy mẹ đang trong giấc ngủ

không nỡ đánh thức mẹ

nên ba một mình ra đi

Những đêm dài thổn thức

Chiến tranh ai hẹn trước ngày về”

Nỗi nhớ tình yêu của mẹ em vẽ qua cảnh mẹ bần thần “áo cất đi rồi giở ra” tránh cảm giác cô đơn nhớ cha ngày mẹ còn trẻ.

Em gốc quê chất phác, nghĩ suy hiền như đất quê mình

“Bao năm xa rồi vẫn nhớ

Sông và mẹ một đời lam lũ

Tiếng sóng hòa vào lời ru…”

Đọc thơ em chị thấy cảnh vần vũ – quê mình lam lũ, mẹ tất tả ngược xuôi bên lở bên bồi.

“Niềm vui chưa trọn lại chia tay chồng ra trận

Mang nặng đẻ đau sinh con mấy bận

Một bóng một đèn như cánh cò bên sông”

Việt Nam mình có bà mẹ nào không có chiến công – đất nước thắng giặc ngoại xâm vì hậu phương anh hùng hơn ra mặt trận. Em đi đâu ở đâu thì mẹ cũng là quê hương và quê hương là mẹ - Nỗi nhớ em đong đầy thành lời hát trái tim:

“Mẹ là dòng sông trong con nguồn cội

Bốn mùa nước chảy giữa lòng quê hương

Bốn mùa yêu thương suốt đời khắc khoải

Tiếng sóng sông quê vỗ bờ vọng mãi

Mẹ là quê hương trong con”

Chị nghe tiếng sóng vỗ dồn bên ngực trái – thấy chiến tranh khói lửa, thấy ba và em trên từng chặng đường tuyến lửa - cả khi ba về làm vườn vẫn không yên:

Trở về với tóc muối sương

Ba xới mảnh vườn gieo hạt

Trong đất vọng về tiếng hát

Ba khóc người đã hư vô”

Như em ngỡ ngàng xúc động – bàng hoàng lặng im trước mênh mông những nấm mộ đống chí :

“Ta lặng im trước Trường Sơn mênh mông

Những ngôi mộ dở dang không hài cốt

Nước mắt còn rơi xuống đất

Ở đâu dấu chân trong rừng”.

Lòng chị cào lên khi em đưa trở về kí ức – những cô gái đưa đường “mênh mang đồi núi trập trùng bước chân… Đi như thể giữa chiêm bao… Nhìn trong mờ ảo ánh đèn” – lời thơ em tả như có cả tiếng bom cày đạn xé.

Chị không thấy thơ em qua hình ảnh cụ thể - chị thấy từng bức tranh hiện lên qua khung cảnh em nhớ, em qua. “Kí ức Trường Sơn”, “Bà mẹ Vân Kiều, “Thành phố”, Làng, Sông, “Thái Nguyên”, “Đền Hùng”, “khu tập thể”, “Con phố nhà binh”, “Mùa Thu”, “nhớ..” “Bình Minh”, “Hoàng hôn”…

Vơi đầy trong từng khổ thơ, con chữ - là tiếng thở của em giữa nhịp sống đời:

“Hun hút con đường dốc

Ngả người vào hơi may

Uống từng tiếng dế thở

Dưới cỏ xanh thơ ngây”

Em mê man trong cơn gió chuyển mùa, trong tà áo thoáng qua hằn lại nỗi nhớ. Em thả mình tắm trong cảm xúc – đàn ông như em có ai lạc mắt nhìn khi thiếu nữ đi qua ánh mắt gửi lại, hay vô tình gặp tà áo mỏng lấp loáng ánh trăng

“Thu lọt hồn nhiên qua kẽ tay

Gặp người tóc vội nhuốm màu mây

Dùng dằng ánh mắt trao ngày trước

để giọt lệ run rơi ấm tay”

…

“Anh như người đi trong mơ

Em xôn xao nỗi nhớ mong chờ

Đất trời như không còn khoảng cách

Mênh mang như chẳng còn bến bờ”

…

“Bờ suối run rẩy em

Gợn dưới chân sóng cát

Anh sa mạc cháy khát

Áo em mỏng gói trăng”.

Em viết thơ như viết tâm sự mình – chị đọc Tiếng sóng sông quê vào một đêm khó ngủ - Chị thấy nhạc, thấy giai điệu đẹp – không thấy vần của một người nặn thơ. “Tiếng sóng sông quê” có tiếng sáo diều – tiếng tre đu đưa kẽo kẹt - em không tô vẽ lên nhưng chị thấy quê hương mình.

Chị thấy Xuân đi qua mỗi nẻo đường đất nước – tình cảm em đặt vào con chữ mộc mạc khiến chị thương thót lòng - chỉ muốn ôm, muốn yêu, muốn vỗ về con người chất phác. Em trân trọng máu thịt mẹ cha đơm bông kết trái – muốn truyền cho con mình kí ức đất mẹ nuôi ba. Đưa con về quê chơi với ông bà “Những gì quen thuộc tuổi thơ/ Với ba con đều rất lạ” là nỗi đau đáu niềm mong con trai khôn lớn đừng quên quê cha đất tổ cội nguồn.

Đêm Sài Gòn không có sóng và sông – vào Blog đọc thơ em chị thấy lòng mình mát mẻ. Chữ là mình – thơ là tâm hồn lời ca nên chả ai vẽ khác được.

Tiếng sóng sông quê là em – mộc mạc chân tình.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

THÂN PHẬN, TÌNH NGƯỜI TRONG TỪNG MẢNH “KÝ ỨC VỤN”



Văn đàn thời gian qua dường như xáo động bởi cuốn tạp văn chọn lọc của nhà văn Nguyễn Quang Lập có nhan đề “Ký ức vụn” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phối hợp với Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản. Sau hai mươi năm, kể từ cuốn “Những mảnh đời đen trắng”, Nguyễn Quang Lập mới lại ra sách, điều đó khiến bạn bè văn chương, bạn đọc mừng cho anh. Thực ra, “Ký ức vụn” đã được bạn đọc đón nhận từ khi những bài viết trong tập được tác giả công bố trên blog của mình. Chính những bài viết đó khiến blog “Quê choa” của Nguyễn Quang Lập được nhiều người chú ý, hàng vạn người truy cập mạng để đọc tác phẩm của anh. Vì những điều đó, có người đã nói “Ký ức vụn” là tác phẩm văn học mạng đúng nghĩa.

Khi sách phát hành, “Ký ức vụn” được giới thiệu tại Nhà sách Đông-Tây (Nhà 11A-Trần Quý Kiên, Hà Nội) trong tình cảm nồng ấm của bạn bè và bạn đọc. Rồi Công ty sách Phương Nam tổ chức riêng buổi ký tên lưu niệm vào sách cho bạn đọc tại Nhà sách Phương Nam Book (20-Lý Thái Tổ, Hà Nội). “Ký ức vụn” được bạn đọc đón nhận với tình cảm thân thiết như người thân trở về nhà. Và, người thân ấy rất đời thường, có chút nghiêm túc, bông lơn, “người ấy” hay nói phương ngôn với giọng rất Quảng Bình, ngay cả khi nói tục hơi thái quá. Nhưng nổi bật trong “Ký ức vụn” là những thân phận, tình người dù họ ở tầng lớp thượng lưu, giới văn nghệ sĩ hay chỉ là những người làng xóm, sống xung quanh mình những ngày thơ ấu hoặc người đã gặp trên đoạn đường đời mưu sinh.

Tôi đã thật cảm động khi đọc chuyện “Ký ức năm hào”, một kỷ niệm không thể phai mờ trong ký ức Nguyễn Quang Lập. Nhân vật trong chuyện là cô bé 11 tuổi, bị bom Mỹ sát hại khi cầm năm hào đi chợ. Chuyện “Con chó Giôn” giống cái truyện “Lão Hạc” của Nam Cao, nhưng đọc thấy hiện lên một thời lam lũ, nghèo khó khắc sâu ngay cả trong giấc mơ trẻ thơ. Nguyễn Quang Lập kể chuyện tự nhiên, tưng tửng, đọc rồi tự cười một mình, nhưng mà sâu, mà cay, mà thương cho những nhân vật, bởi đó là những con người có thật như đang sống quanh mình. Những thằng Á, thằng Thanh, thằng Tụy, rồi “thằng sứt môi”, “thằng hai đầu gối”, “con ăn ruồi”; từ những anh cu Cá, cu Luật, cu Đo, cu Hoi, cu Hó, đến những bà Thiêm, cô Thi, chị Du, anh Thu... trong họ có những đức tính tốt, xấu, có những mâu thuẫn trái ngược nhau. Người hám danh, hám lợi; người lành hiền, thật thà; người quỷ quyệt, xảo trá... Nhưng những con người đó làm nên một đời sống xã hội đa dạng, đa chiều; toát lên vẻ đẹp hồn quê và cũng làm sống lại một thời ký ức chiến tranh trên vùng đất lửa Quảng Bình. Trên vùng đất ấy đã có những mảnh đời, những phận người khác nhau, họ rất bình thường. Có người để lại tấm tình sâu sắc, có người “đi như hạt bụi giữa không trung”. Làm sao không tình, khi anh Á bị chị Du từ chối tình yêu, quyết không lấy làm chồng khi còn ở làng, đến khi đi bộ đội hy sinh, chị lại để tang anh: “Chị cuốn cái tang trắng trên đầu, đi từ đầu làng đến cuối xóm, mặc kệ ai muốn nói gì thì nói”. Cái tình của Hoàn trong chuyện “Thằng sứt môi” đọc chảy nước mắt. Nguyễn Quang Lập khéo gợi cái tình cả trong những con người khùng khùng, điên điên; gạn trong họ chất NGƯỜI để mà sống, mà chiêm nghiệm, để “lòng ta trong sáng hơn”.

“Ký ức vụn” dành hơn nửa số trang viết về giới văn nghệ sĩ, đó là những nhà văn, nhà thơ, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ... Không hẳn đó là những hồi ký, mảnh hồi ức, nhưng qua các chuyện của Nguyễn Quang Lập kể, ta hình dung ra đời sống sinh hoạt của họ, nhất là các bạn văn ở Huế, nơi một thời anh từng công tác ở Hội địa phương. Viết về họ, Nguyễn Quang Lập không đánh giá, không khái quát sự nghiệp văn chương, không đi sâu vào tác phẩm, anh chỉ nói về cái tình, vẽ chân dung qua một vài tính cách của họ. Những chuyện như thế, bạn đọc hiểu thêm một phần đời sống của người làm văn học-nghệ thuật, cho dù là họ đã thành danh, tác phẩm của học đã đi vào tâm trí người đọc. Người đọc sẽ nhớ dai cái vỗ vai của Nguyễn Khải, lời khen thường trực của Hữu Thỉnh, tài nói chuyện của Trần Đăng Khoa, sức hấp dẫn trong lối đọc thơ và chuyện nợ rượu của Phùng Quán, sự cẩn thận, trau truốt câu từ của Hoàng Phủ Ngọc Tường; hay về sự say của Nguyễn Trọng Tạo, cái lơ ngơ duyên dáng của Tuyết Nga, con người điên điên khùng khùng của Bùi Giáng… Mỗi người một tính cách, một “tật” riêng, điều đó gợi sự tò mò của bạn đọc. Nhưng trùm lên các trang viết ấy là cái tình, tính nhân bản vì sự nổi tiếng, những thành công của nghiệp văn, của tác phẩm đều bắt nguồn và xây dựng trên những cái đời thường, mà đôi khi người ta không biết dễ bỏ qua.

Nguyễn Quang Lập là người có tài trong cách kể chuyện, sử dụng khẩu ngôn linh hoạt và dân dã. Điều đó giúp anh được bạn đọc thích, nhất là những người mà hiện nay hay nói là “buôn dưa lê”. Anh cũng khéo kết hợp sử dụng lối kể chuyện dân gian trong tiếu lâm, sự hóm hỉnh trào lộng và tính thông tấn trong các bài viết. “Ký ức vụn” có năm phần, nhưng tôi thích những bài viết về những con người lam lũ ở quê, họ có những cá tính, cả sự không trọn vẹn về thân thể. Tôi thấy có mình ở “Thương nhớ mười ba”, đồng cảm ở sự day dứt khi “hồn quê” xa vắng. Tập sách này, Nguyễn Quang Lập lạm dụng nhiều những câu văn mà người ta cho là tục, đôi khi quá liều, dẫn đến sự tự nhiên chủ nghĩa. Đúng như tên tập sách, nhưng những mảnh ký ức của Nguyễn Quang Lập tưởng là vụn vặt nhưng chúng nói lên rất nhiều khía cạnh của xã hội, của văn chương và điều đó đáng để bạn đọc suy ngẫm./.

5-2009

Người của "Trại hoa đỏ"

Chỉ trong vòng 5 năm, cây bút trẻ Di Li, tên thật là Nguyễn Diệu Linh, sinh năm 1978, đã cho xuất bản tới mười đầu sách, trong đó một tiểu thuyết dầy hơn 500 trang, ba tập truyện ngắn, hai tập bút ký, tự truyện và bốn tập truyện dịch. Là một giảng viên giảng dạy Anh ngữ tại Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội, với sức làm việc, sức viết như vậy quả là nể phục. Song điều đáng nói nhất là các tác phẩm của Di Li đã gây được sự chú ý của bạn đọc, nhất là thể loại trinh thám kinh dị. Tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” do NXB Công an nhân dân ấn hành đã in hàng vạn bản, trở thành một trong những cuốn tiểu thuyết “hot”, bán chạy nhất trên thị trường sách hiện nay. Cùng với tiểu thuyết “Trại hoa đỏ”, trong những tháng đầu năm 2009, Di Li đã cho ra mắt tập truyện ngắn “7 ngày trên sa mạc” (NXB Văn học) và tập truyện dịch “Bóng đêm bao trùm” (NXB Hội Nhà văn). Có lẽ do “hiện tượng Di Li” như vậy, nên sáng 26-6, Ban Công tác nhà văn trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức một cuộc tọa đàm về cây bút trẻ Di Li, xung qua ba tập sách trên. Đến dự cuộc tọa đàm có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và các cây bút trẻ, bạn đọc cả nước. Sau đây là lược ghi về cuộc tọa đàm của phóng viên báo Quân đội nhân dân.

Quang cảnh buổi tọa đàm:

Nhà văn Võ thị Xuân Hà: Từ nhiều năm qua, Ban Công tác nhà văn trẻ, Hội Nhà văn đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm phát hiện và bồi dưỡng những cây bút mới, trẻ tuổi. Ba năm qua, về thơ, chúng ta đã có “Sân thơ trẻ” và đã có những đóng góp tích cực, những cây bút, tác giả thơ mới mà “Sân thơ trẻ” cỗ vũ đã từng bước khẳng định mình trong nền văn học nước nhà. Còn về văn xuôi, đã xuất hiện nhiều tác giả trẻ với những tác phẩm đáng đọc. Di Li là một trong số đó. Tác phẩm của cô được bạn đọc chú ý, thu hút nhiều người tìm đọc. Đặc biệt, Di Li đã nổ một tiếng pháo trong lĩnh vực văn học trinh thám-kinh dị, thể loại mà nền văn học nước ta “đã lãng quên” sau rất nhiều năm. Từ các tập truyện ngắn “Tầng thứ nhất”, “Điệu valse địa ngục” đến tiểu thuyết “Trại hoa đỏ”, rồi một số truyện trong “7 ngày trên sa mạc”, viết về đề tài trinh thám-kinh dị đã khẳng định Di Li có một chỗ đứng trong đội ngũ các cây bút viết văn trẻ, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Sự thu hút và ảnh hưởng từ những tác phẩm của Di Li đã khiến Ban công tác nhà văn trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc tọa đàm mở này.

Nhà văn Trần Thanh Hà: Di Li lựa chọn thể loại trinh thám-kinh dị để sáng tác là một sự dấn thân dũng cảm. Tiểu thuyết trinh thám-kinh dị đã có lịch sử gần 200 năm nếu tính từ thời Ét-ga A-lanh Pô (Edgar Allan Poe), nhà văn Mỹ sống ở đầu thế kỷ 19. Từ đó đến nay, tiểu thuyết trinh thám-kinh dị đã đạt được những thành tựu vô cùng rực rỡ, chúng luôn chiếm vị trí dẫn đầu trong danh sách sách bán chạy nhất (bestseller). Giở lại lịch sử văn học Việt Nam chũng ta cũng đã có truyền thống về truyện kinh dị, như “Liêu trai chí dị”. Đến những năm 1940 nó được kế thừa bởi truyện đường rừng, truyện rùng rợn của Thế Lữ, Đái Đức Tuấn. Sau này truyện rùng rợn, ma quái hầu như vắng bóng. Trải qua nhiều biến động xã hội, một thời ta chỉ có tiểu thuyết tình báo-gián điệp và vụ án, không có tiểu thuyết trinh thám đúng nghĩa. Trong bối cảnh đó, Di Li là một trong rất ít nhà văn lựa chọn thể loại trinh thám và kinh dị. Tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” là cuốn tiểu thuyết đầu tiên kết hợp giữa thể loại trinh thám và kinh dị ở nước ta. Sau “Trại hoa đỏ”, Di Li dự định viết tiếp vài cuốn nữa, xoay quanh vai trò phá án của cảnh sát Phan Đăng Bách, nếu thế, Di Li sẽ là người duy nhất viết tiểu thuyết kiểu xê-ri, một kinh nghiệm rất thành công ở các nước phát triển và hiện nay ở nước ta. Tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” là một thành công của Di Li, câu chuyện hấp dẫn, những tuyến vụ án được bài binh, bố trận kỹ lưỡng, các tình tiết kết nối chặt, hầu như không có sự sơ hở, độc giả bị “lừa” hoàn toàn. Tiểu thuyết dày khoảng 500 trang khổ lớn, có thể nói là khó đọc với người đọc ít thì giờ hiện nay, thế nhưng thật khó bỏ xuống khi chưa đọc xong. Nhưng ở “Trại hoa đỏ”, chương cuối để cho thủ phạm lộ mặt, cô xử lý hơi đơn giản, song trong mấy trăm trang sách, tác giả đã luôn duy trì độ căng thẳng và các cao trào hợp lý. Giữa các chương, tác giả đã đưa vào những trang tả cảnh, cảm xúc âm nhạc mà tôi cho rằng khá hay, có tác dụng “giải nhiệt” và chuẩn bị cho các pha căng thảng tiếp sau, điều này không phải tác giả trinh thám nào cũng làm được. Với “Trại hoa đỏ”, Di Li là người giỏi chơi ma trận và đã chơi thắng.

Nhà văn Trần Thị Trường: “Trại hoa đỏ” không thuộc món ăn ưa thích của tôi, nhưng tôi tin nó là món ăn ưa thích của nhiều người trong một hoàn cảnh giống như hiện nay. Có thể nói, đây là cuốn sách rất hấp dẫn, trí tưởng tượng của tác giả rất dồi dào. Trí tưởng tượng ấy dẫn dắt và lôi cuốn người đọc vào những trang viết của cô, buộc người đọc phải đi hết những điều cô muốn bày tỏ rồi tìm ra câu trả lời cho chính mình. Trong “Trại hoa đỏ” bên cạnh máu, nước mắt, tội ác, ma quái và ma trận, còn có nhiều trang tả cảnh thiên nhiên khá chau chuốt, những trang mô tả cảm xúc am nhạc khá tinh tế. Câu chuyện trong “Trại hoa đỏ” dường như có thật, đang xảy ra đâu đó trong đời sống, nhưng dường như được bịa ra để minh chứng cho câu đề dẫn của tác giả “Ở nơi nào có con người, ở nơi đó còn tình yêu và lòng trung thành. Ở nơi nào có con người, ở nơi đó còn tồn tại sự độc ác và phản trắc. Cái đề dẫn vừa đem lại lợi thế vừa gây ra phản ứng ngược vì nó làm cho người đọc cảm giác về sự lên gân nào đó của tác giả. Và, nếu không bị sa vào quá nhiều chi tiết, đến mức không kiểm soát hết nên đã gây ra hiệu ứng ngược: Hoặc là thừa so với mục tiêu chính, hoặc là thiếu đối với bức tranh toàn cảnh thì cuốn sách hấp dẫn hơn nữa.

Nhà văn Văn Giá: Nhân đọc tập truyện “Bảy ngày trên sa mạc”, tôi thấy mối quan tâm lớn nhất của Di Li là hiện thực về một thế giới thượng lưu thời hiện đại. Thế giới này bao gồm những loại người như doanh nhân, nhà thầu, nhà chứng khoán, những đại gia, những diễn viên sân khấu, những người tình là các mỹ nhân danh tiếng. Đó là thế giới hào nhoáng, quý tộc, nơi không dành cho người nghèo, tầng lớp bình dân, cho người nhà quê. Đó là một thế giới đô thị, bề bộn, phức tạp, choáng ngợp bởi tiện nghi, tiêu xài, giao đãi, xả hơi, giao kèo, hợp đồng kinh tế. Đọc Di Li, nhiều người có cảm giác người viết ra nó rất thạo đời, hiểu theo nghĩa am tường đời sống, một thứ đời sống của giới quý tộc thời hiện đại. Phải có một số ưu thế nhất định nào đó mới có thể xông vào vùng hiện thực này được. Người mặc cảm, người không quảng giao, người ít đi nơi này nơi khác… thì khó có thể tiếp cận và cắt nghĩa về nó. Bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm của Di Li trong tập truyện này là sự hòa phối giữa cảm quan hiện thực và cảm quan trào lộng. Đó cũng là điều đáng để bàn.

Nhà văn Nguyễn Hồng Hạnh: Trước đây viết truyện kinh dị, Di Li dùng những yếu tố kinh dị làm nền cốt để xoáy sâu vào nỗi sợ hãi bản năng của con người. Ở góc độ kỹ thuật, trong tập “7 ngày trên sa mạc” mới này cũng vậy, tác giả vẫn đồng nhất ở chỗ vấn đề thông tin và ý tưởng được trao đổi và xử lý một cách khá tự nhiên. Cũng giống như các tập truyện ngắn trước, Di Li vẫn sử dụng lối hành văn khá đơn giản, lối viết ngẫu hứng, biết cấu tứ, hấp dẫn bạn đọc không phải ở từ ngữ mà ở cách xử lý biến cố thông minh, sử dụng sự tréo ngoe và những kết thúc bất ngờ. Nếu cốt truyện và văn phong có một mẫu số chung thì sự xuất hiện tập truyện ngắn tiếp theo chứng tỏ và cũng có thể hiểu Di Li đã hình thành nên phong cách và lối đi của riêng mình, lối hành văn tỉnh táo, đôi khi châm biếm. Di Li men theo nhân vật chứ không phán xét, khai thác các tình huống, áp dụng thủ pháp miêu tả bên ngoài, gần như để nhân vật nói, câu chuyện diễn ra còn bạn đọc đóng vai trò quan sát và tự suy ngẫm.




Nhà văn Nguyên An: Tôi đọc các tác phẩm của Di Li với một sự mê mải, hồi hộp cuốn hút, dù có truyện đã đọc trên báo, tạp chí rồi. Thật khó có thể thoát ra khỏi trường ngữ nghĩa, vì trong các trang viết của Di Li rất ám ảnh. Cảm thấy Di Li có vốn liếng thật phong phú, dường như mọi chuyện Di Li đều biết cả. Nhưng vốn sống với Di Li, cô tuy trẻ nhưng đã cảm nhận, đã trải nghiệm và quản lý được chúng. Tác phẩm của Di Li có cấu trúc chặt chẽ, tỉ mỉ, nhưng không nghĩ hộ bạn đọc. Nổi bật trong tác phẩm của Di Li là viết về lối sống thành thị, từ việc trang trí, bày biện một ngôi nhà đến tâm lý con người. Di Li dựng truyện về lối sống thành thị thoải mái, sắc nét, không như nhiều nhà văn viết về thành thị nhưng pha một chút quê ở nông thôn mà tôi đã đọc.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Tôi rất ấn tượng với Di Li qua truyện ngắn “Cocktail” đoạt giải của tạp chí Văn nghệ quân đội với lối văn không rườm rà, phù hợp cách đọc hôm nay. Bước tập viết, tập nghề, Di Li đã bỏ qua rất nhanh. Đọc các tác phẩm của Di Li dễ nhận thấy thường có một kết thúc dở, như thế uổng công người viết, người đọc vì nó phơi bày, hiện thực hóa. Truyện kết thúc đơn giản, nhẹ nhàng, có truyện không khó đoán diễn biến câu chuyện. Tôi thấy, Di Li cũng giống những nhà văn thế hệ 8X, 9X có ưu điểm là trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin tốt, nhưng cần đầu tư chiều sâu để có những tác phẩm văn học đích thực.

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Tôi thường đọc các tác giả trẻ, tác phẩm của họ thể hiện trường cảm xúc cuộc sống đa dạng, song còn thiếu sự trải nghiệm. Khi tôi đọc Di Li, tôi thấy cô có lối viết rất lạ, câu chuyện có đầu, có cuối; có những lát cắt tinh tế trong các truyện tâm lý xã hội. Di Li không để cảm xúc của mình trong truyện, cô viết rất lạnh, nhưng câu chuyện kéo bạn đọc lại. Nhân vật trong truyện Di Li lạ, rất cuốn hút tôi. Tôi thấy, Di Li luôn có ý thức tự làm mới mình, và với sự lao động nghiêm túc, tôi tin Di Li sẽ đi hết đường văn của mình. Đối với Ban Công tác nhà văn trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam, Di Li là một phát hiện trong nhiệm kỳ này.