Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG "ĐÔNG TIỀN LÁ ĐA"

Mỗi lần về quê ngoại, đi bên dòng sông Phó Đáy, qua những xóm làng trung du vùng Lập Thạch, tôi lại nhớ về những thân phận con người, ngỡ như được gặp những ông Thống, bà Cần, bà Miên, lão Vận, bác Đống, dì Vân, anh Nhân, chị Thân, chị Xuyến… Đấy là những nhân vật đã ám ảnh tôi khi đọc xong tập truyện ngắn và ký “Đồng tiền lá đa” của Trọng Bảo do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2008.

19 truyện ngắn trong “Đồng tiền lá đa” phản ánh đa chiều những vấn đề xã hội, từ trong lịch sử đến đời sống hiện tại. Ở đó có sự phát triển, đổi thay của làng quê nhờ công cuộc đổi mới đất nước, có những mặt tiêu cực do tác động của nền kinh tế thị trường, có tệ nạn xã hội và những con người man trá, xảo quyệt, lọc lừa… Nhưng chủ đề xuyên suốt trong “Đồng tiền lá đa” là những thân phận con người sau chiến tranh, những người đã chịu đựng đau thương, mất mát trong những cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dễ hiểu trong “Đồng tiền lá đa” chiếm đa số truyện viết về chiến tranh và người lính, bởi tác giả tên thật là Hà Trọng Bảo, hiện là Đại tá, Trưởng phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhà văn quân đội Bùi Thanh Minh sau khi đọc “Đồng tiền lá đa” nhận xét: “Tập truyện vẫn đi theo mạch văn viết về những mảnh đời, thân phận con người sau chiến tranh. (…) Những tấm huân chương rồi cũng sẽ phai màu, mồ liệt sĩ trong nghĩa trang chìm dần vào trong cỏ. Nhưng chiến tranh thì vẫn cứ hiện hữu hàng ngày trong những con người đã từng tham chiến hay có mặt trong thời điểm ấy. Dù họ trở về từ chiến trường hoặc ở hậu phương…” Với Trọng Bảo, anh phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh thông qua những câu chuyện không phải trực tiếp có tiếng bom rơi, đạn nổ. Đấy là những nỗi đau dằn vặt trong lòng ông Thống, chỉ vì kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến đấu mà Đại-một chiến sĩ bộ đội chủ lực và cô Thắm, người yêu của anh bị địch giết chết. Từ đó ông Thống trở nên lầm lì, ít nói, chôn chặt nỗi đau trong lòng, chỉ đến ngày tết, thanh minh đi tảo mộ, ông mới lầm rầm tâm sự trong lời khấn người đã khuất. Nhưng ông cũng kiên quyết không ký xác nhận công nhận liệt sĩ cho Đại, bởi theo ông, Đại chết là do vô kỷ luật. (Thanh Minh). Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trong một ngõ nhỏ của làng Vũ, thôn Đoài, nơi hai người đàn bà là bà Miên và bà Cần cùng có con trai nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ và cả hai cùng hy sinh. Bà Cần được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được chính quyền, làng xóm quan tâm chăm sóc, trong khi bà Miên phải chịu muôn vàn tủi nhục khi bị mang tiếng là con trai phản quốc. Thêm nữa, có người con trai cả cũng từ mẹ và gia đình có người phản bội để không ảnh hưởng đến con đường tiến thân. Mãi sau này, khi bà Miên được “giải oan”, đón nhận bằng Tổ quốc ghi công cho con trai hy sinh vì Tổ quốc trong khi được quân đội phân công làm nhiệm vụ đặc biệt. Là mẹ liệt sĩ, nhưng bà Miên vẫn sống lặng lẽ giữa xóm làng, nỗi đau oan ức được rũ bỏ, nhưng nỗi đau chiến tranh có lúc nào nguôi ngoai. (Ngõ nhỏ).

Những thân phận và nỗi đau chiến tranh được Trọng Bảo phản ánh ở những truyện ngắn mà đọc xong thấy day dứt không nguôi. Lão Vận trong “Người thổi tù và trên bến sông”, chị Thân trong “Chợ chiều”, dì Vân trong “Những lá thư”, chị Xuyến trong truyện cùng tên… Những con người đã sống trong cảnh đời bất hạnh ở một vùng quê yên ả, thanh bình và mỗi người có mỗi số phận và nỗi đau riêng. Ông Vận vốn làm nghề chèo đò, sống lặng lẽ trong túp lều nhỏ trên bến sông, khi người ta xây cây cầu thì lão trở thành người quét chợ. Lão sống vật vờ, không còn người thân vì vợ con lão đã chết bởi bom Mỹ, chỉ còn có con chó mà lão cứu được khi nó bị thả trôi sông là thân thiết. Chỉ đến khi người Bí thư Tỉnh ủy trở lại bến đò xưa, nhớ đến người lái đò, thì thân phận lão Vận mới được mọi người biết đến, lão là người có công với cách mạng. Còn chị Thân vốn là một trung đội trưởng dân quân, tình yêu nghiệt ngã đưa chị đến với một kẻ Sở Khanh rồi có thai. Sau đó chị đi thanh niên xung phong, hết chiến tranh trở về quê lấy chồng là bộ đội công binh. Trong những năm tháng chiến tranh, chị đã bị nhiễm chất độc da cam/điôxin hay chồng bị nhiễm chị cũng không biết, chỉ có sự thật là đứa con sinh ra bị dị tật, không hình thù người. Chị Thân sống đơn côi dưới chân núi Sáng, không chế độ đãi ngộ. Cuộc đời đau khổ, nhưng chị chấp nhận, không kêu ca, tự kiếm sống để nuôi thân. Còn chuyện của dì Vân thật cảm động, hy sinh cả thời xuân sắc của mình để thay chị động viên người lính yên tâm chiến đấu trên chiến trường. Câu chuyện tình qua những lá thư thấm đẫm nước mắt, có kết cục buồn vì cả dì Vân và người lính đều lẻ bóng trong đời. Chuyện chị Xuyến là một trong những góc khuất của chiến tranh, khi cả người chồng và người tình đều hy sinh ở chiến trường. Đọc truyện, ta dễ cảm thông với chị và thương anh Phán, một thanh niên-người lính thật thà, chất phác phải rơi vào cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”. Nếu không có chiến tranh, khó ai có thể tha thứ cho chị Xuyến.

Số phận người lính và con người sau chiến tranh còn khắc nghiệt hơn nhiều khi đất nước chuyển sang thời cơ chế thị trường, đồng tiền khuynh đảo những giá trị cuộc sống, làm tha hóa một bộ phận con người trong xã hội. Trên đường phát triển đất nước, những khu công nghiệp mới mở, đô thị hóa làm cho giá đất tăng vọt, đồng tiền làm cho những giá trị tình cảm lâu bền trong gia đình bị tan vỡ. Đó là bi kịch trong gia đình bà Chi, một người vợ liệt sĩ, một người dâu hiền, người chị tần tảo hy sinh cả đời cho gia đình nhà chồng. Nỗi đau và sự khắc nghiệt do đồng tiền gây ra đã lột tả trong truyện ngắn “Ngôi nhà giữa phố”. Ngay trong quân đội, những tiêu cực, bất công vô lý cũng xảy ra, điển hình như trong truyện “Cơn mưa cuối chiều”, thật đau đớn khi người vợ lính thốt lên “Nhưng làm gì có chuyện vô lý như thế, thượng úy thì được chia nhà, thượng tá thì không. Chả đơn vị nào người ta lại làm ăn vớ vẩn như thế cả”. Thế mà có chuyện ấy, dù ông Đống-nhân vật trong truyện có thành tích chiến đấu, huân chương, huy chương đầy người. Còn những số phận người lính khác như Nhân, bị thương tật do chiến tranh đến nỗi người đời phải gọi là “Dị Nhân”, có thành tích chiến đấu, sau chiến tranh phải đi làm thuê kiếm sống, nhưng cũng rất bấp bênh, sẵn sàng bị chủ đuổi việc (Dị nhân). Hay chuyện của chị Thùy, người lính vận tải năm xưa sẵn lòng đi làm “ô-sin” ở phố (Chuyện của một thời). Điều đáng quý nhất ở những người lính, đó là lòng tự trọng, họ chấp nhận số phận và không ngừng tự lao động để vươn lên. Tuy không viết về người lính, nhưng truyện ngắn “Đồng tiền lá đa” được tác giả chọn là tiêu đề cả tập truyện nhằm tập trung cho chủ đề: Mỗi con người, mỗi số phận sau chiến tranh, dù phải chịu những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội nhưng vẫn giữ trọn vẹn những giá trị nhân văn, nhân bản của con người, đó là truyền thống tạo nên cội nguồn tinh thần cho mỗi con người, từng gia đình và xã hội.

“Đồng tiền lá đa” thấm đẫm tình đời, tình người. Cách viết của Trọng Bảo chân thật, dễ hiểu, anh để cho từng nội dung câu chuyện gây xúc động cho bạn đọc. Chủ đề của những truyện ngắn trong tập đã được nhiều nhà văn trong và ngoài quân đội khai thác, nhưng Trọng Bảo vẫn tìm được ra cái riêng của mình, đó là sự hồn hậu, trong sáng, gây được ấn tượng với bạn đọc. Khi đọc những dòng hội thoại giữa hai bà mẹ liệt sĩ thế này, ai trong lòng cũng rưng rưng:

“Vịn tay lên mép bàn thờ, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và cái khung kính gài đỏ những huân, huy chương của con, bà Miên chợt kêu lên: -Thôi chết!Chả còn giữ được cái ảnh nào của thằng Thái cả!

Bà Cần lập cập: -Còn… vẫn còn đây! Bà rút từ túi áo ra một tấm ảnh tày ba ngón tay. Thằng Thái chụp chung với thằng Quốc khi mới nhập ngũ. Hai thằng mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, miệng cười toe toét” (Ngõ nhỏ).

Xen kẽ những chuyện về chiến tranh và người lính, Trọng Bảo đã lựa chọn truyện ngắn lịch sử “Bến sông xưa” và những truyện đầy lãng mạn “Hương rừng”, “Mưa rừng”; nói về sự đời, tình người trong “Học trò cũ”, “Chuỗi thời gian”, “Chân trời xa”, “Trang trại ma gà” hay “Truyện viễn tưởng” ở đó có tiếng cười xa xót. Những truyện ngắn trên góp phần làm cho tập truyện không đơn điệu, khô cứng, mà gấp sách lại người đọc không thể quên ngay…

12-2008

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét