Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Kim Chuông độc đáo với tích chèo



Đọc trên báo Văn nghệ và một số tờ báo khác, bạn yêu thơ thích thú khi bắt gặp mấy bài thơ của nhà thơ Kim Chuông, rất độc đáo khi viết về những nhân vật trong tích chèo Quan âm Thị Kính. Độc đáo là vì nhà thơ có cách nhìn khác về Thị Màu, anh Nô - những nhân vật quen thuộc đã đi vào đời sống tinh thần của người dân từ bao đời nay.
Những bài thơ “Thị Màu”, “Giải oan Thị Màu”, “Anh Nô” dường như được Kim Chuông viết liền một mạch trong tháng 10 và tháng 11 năm 2010 với thể loại thơ lục bát. Cảm hứng từ những nhân vật có số phận đặc biệt như Thị Nở, như anh Nô khiến nhà thơ không thể không cầm bút. Để “giải oan” cho lửa lòng yêu đương cháy bỏng của Thị Màu, nhà thơ có lý lẽ riêng của mình. Với nhân vật Nô, Kim Chuông đã phát hiện, lý giải vì sao một người thanh niên nông dân thuần phác, thủ phạm chính trong cuộc ái ân trăng gió với con gái Phú Ông, lại không bị phát hiện, không kết tội, mà còn lưu danh hậu thế, dù chỉ là thông qua tích chèo.
Một cô gái lẳng lơ như Thị Màu bị lên án trong xã hội phong kiến, không thể chấp nhận theo lối sống, đạo đức, thuần phong của người phương Đông. Với nhà thơ Kim Chuông, Thị Màu được sinh ra là “tại trời cao, tại ông trời trước tiên”… Người con gái như một bông hoa, sinh ra là để làm đẹp thế gian này. Thử hỏi trái đất, xã hội con người sẽ ra sao nếu không có đàn bà? Thế thì Thị Màu sinh ra là lẽ đương nhiên, là báu vật của trời đất “Tại trời đã sinh ra em/Núm cau chum chúm trồi lên yếm đào”. Mà đã là con người thì có sự khao khát tình yêu, thèm khát bạn tình như bao sinh vật sống khác. “Màu thèm chút “tỉnh tình tang”…/Thèm “cơn điên” cả thế gian vẫn thèm/Vị chua táo rụng bên thềm/Màu coi còn sướng hơn nghìn ngai vua”. Một sự thèm khát tự nhiên, bản năng trong mỗi con người. Thế nên như những người con gái khác, Thị Màu đi tìm sự khao khát cho riêng mình, muốn dâng hiến cho bạn tình, cho người mình yêu. Song hành động của Thị Màu trong một xã hội lễ giáo phong kiến xưa khó có thể chấp nhận: “Người đời miệng lưỡi cay chua/Tội Màu ư, cái tội thừa lửa tim/Người ta biết giấu cái nhìn/Biết đem mình, tự nhấn chìm mình đi”.
Đem lý trí vào tình yêu thì đâu còn tình yêu nữa, đó là sự tính toán, cân đo, nên với tác giả (và cũng nhiều người nữa?): “Màu không. Chả sợ qué gì/Yếm đào cứ tốc, oản thì cứ phơi/Sướng lên, bé cả ông giời/Tội thì Màu chịu, hơn ngồi nhịn suông”. Việc lên án hành động của Thị Màu xưa nay chỉ là do những định kiến xã hội, những lễ giáo cũ đang kìm kẹp con người mà thôi, chứ tình yêu, sự khao khát dâng hiến không có lỗi gì. Cũng như trong truyền thuyết, nàng Mỵ Châu “trái tim lầm chỗ để trên đầu”, chứ đâu phải tội phản quốc! Thế nên “Bảo Màu sống khác đi a?/Màu mà sống khác/Không ra Thị Màu”.
Với nhân vật Nô, một người nông dân hiền lành, cả đời sống kiếp tôi đòi, không có tài sản gì cả, chỉ có tuổi thanh xuân với cơ thể vạm vỡ. Đấy là tài sản quý giá, một sức sống mãnh liệt mà ai cũng từng mong ước, nhất là với những cô gái muốn được thỏa mãn nỗi khát khao, thèm muốn bạn tình. Khi Thị Màu thật mình muốn dâng hiến, “đem lửa đốt Nô thành tro than”, thì với người con trai đang sung sức, căng tràn nhựa sống “gặp nồi đã mở vung rồi thì ăn”. Nên tác giả đặt bút: “Nô đang ở tuổi xuân thì/Gặp Màu đây nữa làm gì chả điên” là dễ hiểu.
Thị Màu và Nô, một người bị đạo đức, lễ giáo kết tội, một người là thủ phạm trực tiếp thì vô can. Làm nên một cái án oan bởi sự khao khát dang hiến, là lẽ tự nhiên của tình yêu? Nghịch lý ấy trong tích chèo là để lên án một xã hội phong kiến mục nát, những lễ giáo cổ hủ, kìm hãm sự khao khát tình yêu, cuộc sống nơi con người. Trong những bài thơ trên, có khi tác giả rơi vào trạng thái viết nên những câu thơ tự nhiên chủ nghĩa. Song, cảm hứng từ những nhân vật trong tích chèo xưa, Kim Chuông muốn gửi thông điệp về tình yêu, đề cao phẩm giá con người. Trong sự khao khát bản ngã, mỗi người phải sống đúng với chính mình hơn, để từ đó dần hoàn thiện nhân cách con người.
Hà Nội 3-2012

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

HÀ CỪ VỚI “THĂM THẲM CÕI NGƯỜI”



HÀ CỪ VỚI “THĂM THẲM CÕI NGƯỜI”
Nhà thơ Hà Cừ đã đi qua một chu kỳ hoa giáp đời người, nên đủ để anh chiêm nghiệm, nhìn lại đường thơ của mình. Điều đó là dễ hiểu khi anh đặt tên tập thơ riêng thứ ba của mình là “Thăm thẳm cõi người” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2008). Tập hợp 32 bài thơ sáng tác chủ yếu trong ba năm trở lại đây, được chia làm hai phần: “Cõi người” và “Thăm thẳm”, cùng với những tự bạch về thơ, thấy anh rất trách nhiệm, nghiêm túc với công việc làm thơ, bền bỉ một đời với thơ. Hà Cừ cũng “vịn vào thơ” để nói nên những suy tư, tình yêu cuộc sống và nghĩ suy về nhân tình thế thái.

Ở khoảng chiều cuộc đời, vào tuổi “tri thiên mệnh” Hà Cừ thấy “rợn” bóng thời gian, nên anh tâm sự:
Rợn mình đã ngoại mấy mươi
Chiều thu nắng quái, nét cười chân chim
Ngửa tay con sóng nổi chìm
Hư vô năm tháng còn in cõi người
(Sóng giữa lòng tay).
Tôi giật mình vì liên tưởng tới nhà thơ Tô Hà, người đã gói cả niềm yêu thơ, một đời thơ vào tập thơ chọn cùng mang tên “Sóng giữa lòng tay”. Một đời nổi chìm với những lo toan, vui buồn, với miệt mài sáng tạo. Đã thành quy luật, ai rồi cũng hư vô, trở về cát bụi. Vậy những năm tháng được sống phải sống thế nào, để lại gì in vào “cõi người” trước khi hư vô. Khi nhìn lại những tấm danh thiếp, chứng nhân của những mối quan hệ, những cuộc quen biết và gặp nhau trên đường đời, anh đã ray rứt:
Ta ngồi đếm danh thiếp
Như đếm những vui buồn
Lòng bâng khuâng tự hỏi
“Thiếp nào danh không còn”?
(Danh thiếp)
Nhà thơ Hà Cừ nhận thấy giữa dòng đời bon chen có bao điều thật giả lẫn lộn, lộn sòng giữa cái xấu và cái tốt. Có những giá trị giả lại được tôn vinh, đề cao; có người trước danh lợi từ đang thù thành bạn thân, từ mang ân thành kẻ phản phúc. Hà Cừ khi luận bàn về nhân tình, thế thái thường là nêu vấn đề, anh không đi đến cùng mà dành phần nghĩ suy cho bạn đọc. Có khi anh trực diện bàn luận trong các bài “Danh-Lợi”, “Danh thiếp”, “Mê lộ”, “Ai biết”. Có khi anh mượn các loài hoa, cả hoa hồng, hoa giấy, hoa giả… Như:
“Trọn một kiếp hoa giả
Cũng rực rỡ sắc màu
Cũng cắm trong bình sứ
Thật-giả khác chi nhau”
(Hoa giả)
“Cứ gọi là hoa giấy
Nhưng phải là giấy đâu?
Cả một đời dâng hiến
Gọi tên là thấy đau!”
(Trước giàn hoa giấy).
Cũng như nhiều nhà thơ đã làm, Hà Cừ lấy cảm hứng lịch sử để bàn luận về nhân tình thế thái, xã hội hiện tại, về “cõi người” đang sống. Anh luận về “vọng phu” để nói về tình yêu thời hiện đại; lấy chuyện Gióng lập công lớn, mải đánh giặc mà chưa kịp lo cho mẹ già; là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nhà giáo Chu Văn An, hay Nguyễn Du… mỗi người một khía cạnh để anh bàn thế sự, lòng người. Là nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí, lại là nhà thơ nên đến đâu anh cũng có thơ để ghi những cảm xúc, nói những nghĩ suy của mình, từ chuyện ăn xin ở xứ người, đến tấm tình ở Sa Pa, Tam Đảo. Đặc biệt, khi đến Trung Quốc thăm nhà thờ họ Khổng, anh đã chỉ ra cái hạn chế ở tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”:
“Khổng Tử mấy nghìn năm vẫn sống giữa cõi người/Có ai biết trên bàn thờ họ Khổng/Mẹ đẻ không thờ-Khổng Tử chỉ thờ cha?” (Gặp ở Khổng miếu).
Đọc Hà Cừ qua các tập thơ “Gió chân mây”, “Dòng sông năm tháng” và ở những tập thơ in chung, tôi yêu thích anh ở sự chân thật, dung dị, đằm thắm, nhẹ nhàng và rất tinh tế: “Chợ quê con tép cũng gầy/Con cua, con cá dính đầy bùn tươi” (Chợ quê); hay: “Trời chiều lắc rắc hạt mưa/Bờ tre quyện khói đường thưa bóng người/Bếp nhà ngọn lửa hồng tươi/Mẹ ngồi rang cốm tháng mười cho con” (Ngày xưa hương cốm). Ở “Thăm thẳm cõi người”, anh vẫn còn nhiều bài thơ như thế, tuy có những trải nghiệm, suy xét nhiều hơn. Dễ hiểu vì chính anh cũng nhận thấy: “Năm tháng qua nhanh/Ta không thể nào ngờ/Cả anh và em bây giờ đã khác” (Tháng năm này không lặp lại đâu em). Và, “Bờ sông sóng vẫn dạt dào/Cỏ xanh dẫn lối lạc vào bến xưa/Giật mình tiếng võng nhẹ đưa/Tiếng bà ru cháu giữa trưa nắng vàng…” (Thăm bến sông xưa).
Trải nghiệm một đời mới thấy lòng người “thăm thẳm”. Người bước về xế chiều thường hay nhớ về quá khứ, với những vui buồn, được mất. Hà Cừ cũng vậy. Anh nhớ về dòng sông, bến sông, triền đê, đồng cải quê nhà, nhớ những kỷ niệm thời tuổi trẻ, những miền đất đã đi qua. Anh thổn thức: “Năm trước cùng nhau đi chợ hoa/Năm nay đào đã thắm bên nhà/Thăm thẳm một trời, thăm thẳm gió/Giữa cõi xuân người, ta lạc ta!” (Lạc). Hay: “Sóng vỗ bờ xa, mây trắng bay/Con đường nhuộm tím sắc hoa may/Dấu chân ngày ấy còn lưu giữ?/Triền đê thao thức cỏ dâng đầy!” (Dấu chân trong cỏ). Hà Cừ ngậm ngùi với thời gian: “Lặng nghe/Trời đất hao gầy/Hoàng hôn/Vàng/Đã rụng đầy/Bến sông/Bờ xa/Cải đã trổ ngồng/Cô đơn/Con sóng vỗ lòng/Người dưng!...” (Sóng). Thơ Hà Cừ trữ tình, tràn đầy niềm cảm thông với những phận người, vì thế dễ lắng đọng trong lòng người đọc: “Chiều hôm/Em bước xuống đò/Gió xô từng đợt/Xé vò bờ lau/Luênh loang/Giọt nắng đổi màu/Có người ngược gió/Gánh sầu/Mòn vai!” (Gió bờ lau).
Trong “Thăm thẳm cõi người”, Hà Cừ có nhiều tâm sự về nghề, về đời thơ, những nỗi truân chuyên của người “phu chữ”. Anh viết về nhà văn Phù Thăng để nói về nghiệp văn: “Tôi nhìn ra cánh đồng/Cánh đồng thăm thẳm xanh/Nhìn lên bầu trời/Bầu trời thăm thẳm cao (Trong một chiều yên lặng). Anh theo đuổi văn chương, nhưng chưa đạt mong muốn, những thành công cho riêng mình trên con đường sáng tạo, nhất là trong thơ: “Tôi lơ ngơ/Lạc trong vườn ổi/Ngập tràn hương thơm/Không tìm ra/ Quả chín riêng mình/Mùa thu đi qua/Quả chín không còn/Giờ trở lại/Vườn xào xạc lá/ Cây hóa bơ vơ.” (Hương ổi vườn xưa).
So với các tập thơ trước của Hà Cừ, “Thăm thẳm cõi người” chưa thật sự hay hơn, nhiều bài còn khô cứng do anh “tự loại bớt hoa lá tươi xanh” để “ bài thơ gọn lại, câu thơ chắc hơn”. Hà Cừ hay hơn ở những bài thơ trữ tình, dung dị, nhẹ nhàng, có chất dân gian truyền thống, vì thế bạn đọc dễ nhớ và dễ thuộc. Anh đã cố gắng làm mới mình, ngay cả cách ngắt câu của thể thơ lục bát. Trong 32 bài thơ, có đến 28 bài anh sử dụng dấu chấm than (!) và gần bằng đó dấu hỏi chấm(?), ngay cả ở những câu lục bát. Dùng nhiều, nhưng không phải chỗ nào chúng cũng đắc địa, thậm chí còn cản trở cho sự cảm nhận thơ anh của bạn đọc. Bằng sự chiêm nghiệm, vốn sống phong phú, bạn đọc hy vọng ở Hà Cừ trong những tác phẩm mới thâm trầm, sâu lắng và cũng thơ hơn, trữ tình hơn, tránh những triết luận khô cứng mà nhiều người đang cho rằng cách tân, “trí tuệ hóa” thơ.
Nguyễn Đình Xuân

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009

Sức hấp dẫn của "Trại hoa đỏ"



(Các nhà văn trong buổi tọa đàm tác phẩm của Di Li)


Tôi đọc chậm tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” của Di Li (tên thật Nguyễn Diệu Linh, NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2009). Vừa đọc vừa cảm nhận vẻ đẹp trong từng trang viết, về khung cảnh đa sắc, đa âm mà tác giả miêu tả. Ở đó có tiếng sáo ma quái, sự huyền bí của ngôi nhà cổ, nét thâm u của hang đá dưới tượng Cụt Đầu, những cánh rừng thiên nhiên và nhân tạo... Đọc xong “Trại hoa đỏ”, tôi có cảm giác như mình vừa bước ra từ một ma trận mà Di Li đã bày ra. Rồi lại tự muốn đi vào trong ma trận ấy để tôi gặp lại những cảm xúc qua từng trang sách. Hơn 430 trang sách khổ lớn (kích thước 16x24cm), đã là sự ghi nhận sự lao động, sáng tạo bền bỉ của tác giả, song, điều đáng nói là Di Li đã tạo nên ấn tượng không dễ quên. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” không chỉ là chủ đề trinh thám-kinh dị, mà còn là sự khéo léo trong bố trí các tuyến nhân vật, cách miêu tả cảnh vật tài tình và lối viết trong sáng, khơi gợi cảm xúc cho người đọc.




Câu chuyện bắt đầu từ hành trình của gia đình Mai Diên Vĩ lên tham quan một vùng đất hoang sơ, nơi được chồng chị-Phan Hoàng Lưu mua làm trang trại để tặng sinh nhật vợ. Ngay buổi đầu tiên khi đến vùng đất để lập trang trại, vợ chồng Vĩ-Lưu đã gặp giông gió, mưa sa. Rồi những diễn biến hãi hùng ở trang trại mang tên “Trại hoa đỏ” với những cái chết bí ẩn, những cái xác mang nguyên trang phục trong ngôi nhà họ Quách, bộ xương người con gái trong trang phục màu đen dưới lòng hang đá Cụt Đầu; những hồn ma “tung tóe” máu, bóng loài chó rừng đen thoắt ẩn thoắt hiện, hay tiếng loài chim chết rợn người, những hình nhân vấy máu... Thêm những hình ảnh kinh dị được Di Li miêu tả về ngôi nhà của Thiếu tá công an Đỗ Quang Huy trong đêm anh bị sát hại. Những trang viết về kẻ điên dại của dòng họ Quách, nét ma quái của lão thày Mo, sự khó hiểu của đôi vợ chồng già sống trong trang trại... Đại úy Phan Đăng Bách là người tình cờ đến dự lễ khánh thành Trại Hoa đỏ của vợ chồng Diên Vĩ, rồi được thông báo về những cái chết bí ẩn ở trại. Anh lặng lẽ điều tra về những cái chết ấy, trong khi đảm nhận điều tra về băng nhóm tội phạm nhí và phối hợp cùng với nữ Đại úy công an Mai Thanh điều tra về cái chết của Thiếu tá Đỗ Quang Huy. Di Li cố gắng khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật Phan Đăng Bách, Mai Thanh, những điểm sáng trong tuyến nhân vật chính diện của tiểu thuyết. Nhưng ở từng trường đoạn hay đoản văn, Di Li khiến người đọc bị ám ảnh từ diễn biến câu chuyện kết hợp với sự huyền bí thông qua cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên xung quanh. Sự kết hợp phản ánh tâm lý nhân vật với sự huyền bí thiên nhiên, bóng hình ma quái và chất trữ tình siêu thực, nhất là khi chuyển đoạn, chuyển chương tạo cho tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” thêm cuốn hút độc giả.

Chọn thể tài trinh thám-kinh dị cho tiểu thuyết “Trại hoa đỏ”, tự thân thể loại đã tạo nên sự hấp dẫn. Trên thế giới đã có nhiều nhà văn thành công với thể loại tiểu thuyết văn học trinh thám-kinh dị, tác phẩm của họ luôn có số lượng phát hành cao trên thị trường. Ở nước ta, văn học trinh thám-kinh dị ra đời từ rất sớm, với điển hình là “Liêu trai chí dị”. Trước năm 1945, văn học nước nhà đã có những chuyện ma quái, rùng rợn của Thế Lữ, Đái Đức Tuấn. Sau đó, thể tài trinh thám-kinh dị chưa được các nhà văn chú trọng sáng tác, mà tập trung cho thể loại tiểu thuyết tình báo-phản gián và hình sự. Sự thiếu hụt ấy được Di Li bổ sung với tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” và các truyện ngắn trong các tập “Tầng thứ nhất”, “Điệu valse địa ngục”, “Bảy ngày trên sa mạc”. Thành công của Di Li sẽ là sự khích lệ cho nhiều nhà văn sáng tác ở thể loại này.

Ở “Trại hoa đỏ”, Di Li tạo được sự hấp dẫn trước hết ở việc xây dựng các tuyến nhân vật, đặc trưng từng nhân vật thông qua tâm lý, hành động và đặc điểm hình dáng, tính cách. Dù là nhân vật chính, nhân vật phụ hay thoảng qua, có khi là con người, loài động vật hay loài sinh vật hoang dại, sự vật đều tạo được ấn tượng cho bạn đọc qua cách xây dựng và miêu tả của tác giả. Hình ảnh người chiến sĩ công an là chủ thể của tuyến nhân vật chính diện thông qua Phan Đăng Bách, Mai Thanh, Trung tá Phả, điều tra viên Lãm. Còn có những người tốt như bác sĩ Khang, người mẹ miền Trung, A Cách. Tuyến phản diện đặc trưng là những con người xảo quyệt như Phan Hoàng Lưu, Phạm Văn Sương, lão thày Mo, Ráy, kẻ đội lốt công an Trịnh Huy Bình, Kahlil Tan. Diên Vĩ là nhân vật chính tiêu biểu của những nạn nhân bị cái ác trà đạp và sự tắc trách của một bộ phận người có trách nhiệm làm công tác quản lý. Cô sinh ra từ người mẹ bất hạnh với người bố vũ phu, bất hảo. Rồi cô bị cộng đồng ruồng bỏ ngay từ cái làng quê nghèo, đến việc vào trại người điên, để có những định kiến sau lần xảy ra sự việc với Sương ở ký túc xá để phải đuổi khỏi trường đại học. Còn những nạn nhân khác mỗi người một hoàn cảnh như Di, Bi-nốt-ruồi, Gã điên và người con gái cuối cùng của dòng họ Quách, vợ chồng bà Miến-A Bằng v.v.. Thông qua miêu tả, bạn đọc hình dung được tính cách của các nạn nhân bị giết chết như Đỗ Quang Huy, Trần Đàm Anh, Lý Minh Văn. Có hai nhân vật đặc biệt trong tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” không thể không nhắc tới, đó là bé Bảo và chú chó Lucky. Bé bảo hồn nhiên, dù sinh ra trong sự bất hạnh: mắt khuyết tật, mẹ bị giết, nhưng chính từ những trò chơi, cảm giác của bé Bảo đã làm cho câu chuyện hấp dẫn. Chú chó Lucky, xuất thân là loài chó hoang, khi được cảm hóa đã có những hành động như con người đầy nghĩa khí và trung thành. Từng nhân vật, mỗi người một vẻ, qua ngòi bút của Di Li trở nên sinh động, cuốn hút người đọc.

Trong “Trại hoa đỏ” Di Li đã ít nhiều thành công trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật như Đại úy Phan Đăng Bách, Mai Thanh, Trung tá Phả và Thiếu tá Đỗ Quang Huy, Người Trưởng phòng điều tra nghiêm khắc. Ở Phan Đăng Bách là một sĩ quan công an cần mẫn trong điều tra, cố gắng để tích lũy kinh nghiệm nghiệp vụ, tạo cho mình có một “trực giác” tốt để tự khẳng định mình trong công việc. Còn Mai Thanh là một nữ công an tâm huyết với nghề, có sự thông minh đến lạnh lùng. Trung tá Phả với hàm răng vàng, cái miệng cười rất “đặc biệt”, là một con người chân chất, tận tụy công việc, dễ để bạn đọc nhớ nhất là chi tiết đã quá nửa đêm tìm được manh mối của đứa trẻ đầu tiên bị bắt cóc ở vùng Trại hoa đỏ đã gọi điện cho Phan Đăng Bách. Những nhân vật như Thiếu tá Huy, Người trưởng phòng điều tra, Điều tra viên Lãm... dù chỉ thoáng qua, nhưng cũng thấy đó là những con người vì công việc, dám hy sinh cả tính mạng mình để đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ bình yên cuộc sống nhân dân. Nhưng cũng qua việc xây dựng hình ảnh người chiến sĩ công an, cho thấy, tác giả còn chưa thật hiểu về nghiệp vụ, nguyên tắc, tính lô-gic trong điều tra, dẫn đến xử lý các vụ việc đơn giản. Có lẽ, Di Li còn thiếu vốn sống trong lĩnh vực này.

Các tuyến nhân vật trong “Trại hoa đỏ” xây dựng đan xen nhau, trình tự, kết cấu theo chương mục nên bạn đọc dễ theo dõi câu chuyện. Di Li cố gắng đưa người đọc vào ma trận, nhưng lại vẽ một con đường thẳng để bạn đọc đi vào ma trận ấy, khiến “Trại hoa đỏ” có kết thúc rõ ràng, chưa thực sự làm thỏa mãn bạn đọc. Điểm yếu dễ nhận thấy ở tiểu thuyết “Trại hoa đỏ” là tác giả đã “nhân tạo hóa” khung cảnh, sự vật, miêu tả nhiều lời, có nhiều chỗ người đọc cảm thấy như tác giả quanh quẩn, lúng túng với chính các khung cảnh mình vẽ ra. Có thể, Di Li cố gắng bám theo quan niệm “Ở nơi nào có con người, ở nơi đó có tình yêu và lòng trung thành. Còn cũng ở nơi nào có con người, ở nơi đó còn tồn tại sự độc ác, nham hiểm và phản trắc”, nên cách xây dựng nhân vật, giải quyết những mẫu thuẫn, xử lý các tình huống cũng trở nên gò bó, chưa thật sự đắc địa. Cách Di Li xử lý những trạng huống tâm lý của Diên Vĩ khi vào ma trận rừng nhân tạo, dấn chân vào ngôi nhà cổ, lục lọi trong lòng hang dưới tượng hình Người Cụt Đầu... chưa thật phù hợp, dường như là cố gắng ma quái hóa để truyện ly kỳ hơn. Tuy nhiên, bạn đọc dễ chấp nhận bởi sự hấp dẫn, lý thú qua cách miêu tả thiên nhiên, cảnh vật, âm thanh rất trữ tình của “Trại hoa đỏ”.

Một tiểu thuyết đầu tay dày dặn, tiên phong trong thể loại trinh thám-kinh dị, là thành công của Di Li, đưa cô trở thành một trong những nhà văn trẻ nổi bật, tài năng và rất tiềm tàng công lực trong ngôi nhà văn học nước ta. Từ “Trại hoa đỏ” và những tập truyện ngắn đã xuất bản, tôi tin Di Li sẽ tiếp tục thành công trên con đường sáng tác của mình và đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm xuất sắc.

8-2009

Bạn đọc tặng hoa cho nhà văn Di Li



Di Li và con gái

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG "ĐÔNG TIỀN LÁ ĐA"

Mỗi lần về quê ngoại, đi bên dòng sông Phó Đáy, qua những xóm làng trung du vùng Lập Thạch, tôi lại nhớ về những thân phận con người, ngỡ như được gặp những ông Thống, bà Cần, bà Miên, lão Vận, bác Đống, dì Vân, anh Nhân, chị Thân, chị Xuyến… Đấy là những nhân vật đã ám ảnh tôi khi đọc xong tập truyện ngắn và ký “Đồng tiền lá đa” của Trọng Bảo do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2008.

19 truyện ngắn trong “Đồng tiền lá đa” phản ánh đa chiều những vấn đề xã hội, từ trong lịch sử đến đời sống hiện tại. Ở đó có sự phát triển, đổi thay của làng quê nhờ công cuộc đổi mới đất nước, có những mặt tiêu cực do tác động của nền kinh tế thị trường, có tệ nạn xã hội và những con người man trá, xảo quyệt, lọc lừa… Nhưng chủ đề xuyên suốt trong “Đồng tiền lá đa” là những thân phận con người sau chiến tranh, những người đã chịu đựng đau thương, mất mát trong những cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dễ hiểu trong “Đồng tiền lá đa” chiếm đa số truyện viết về chiến tranh và người lính, bởi tác giả tên thật là Hà Trọng Bảo, hiện là Đại tá, Trưởng phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhà văn quân đội Bùi Thanh Minh sau khi đọc “Đồng tiền lá đa” nhận xét: “Tập truyện vẫn đi theo mạch văn viết về những mảnh đời, thân phận con người sau chiến tranh. (…) Những tấm huân chương rồi cũng sẽ phai màu, mồ liệt sĩ trong nghĩa trang chìm dần vào trong cỏ. Nhưng chiến tranh thì vẫn cứ hiện hữu hàng ngày trong những con người đã từng tham chiến hay có mặt trong thời điểm ấy. Dù họ trở về từ chiến trường hoặc ở hậu phương…” Với Trọng Bảo, anh phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh thông qua những câu chuyện không phải trực tiếp có tiếng bom rơi, đạn nổ. Đấy là những nỗi đau dằn vặt trong lòng ông Thống, chỉ vì kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến đấu mà Đại-một chiến sĩ bộ đội chủ lực và cô Thắm, người yêu của anh bị địch giết chết. Từ đó ông Thống trở nên lầm lì, ít nói, chôn chặt nỗi đau trong lòng, chỉ đến ngày tết, thanh minh đi tảo mộ, ông mới lầm rầm tâm sự trong lời khấn người đã khuất. Nhưng ông cũng kiên quyết không ký xác nhận công nhận liệt sĩ cho Đại, bởi theo ông, Đại chết là do vô kỷ luật. (Thanh Minh). Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trong một ngõ nhỏ của làng Vũ, thôn Đoài, nơi hai người đàn bà là bà Miên và bà Cần cùng có con trai nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ và cả hai cùng hy sinh. Bà Cần được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được chính quyền, làng xóm quan tâm chăm sóc, trong khi bà Miên phải chịu muôn vàn tủi nhục khi bị mang tiếng là con trai phản quốc. Thêm nữa, có người con trai cả cũng từ mẹ và gia đình có người phản bội để không ảnh hưởng đến con đường tiến thân. Mãi sau này, khi bà Miên được “giải oan”, đón nhận bằng Tổ quốc ghi công cho con trai hy sinh vì Tổ quốc trong khi được quân đội phân công làm nhiệm vụ đặc biệt. Là mẹ liệt sĩ, nhưng bà Miên vẫn sống lặng lẽ giữa xóm làng, nỗi đau oan ức được rũ bỏ, nhưng nỗi đau chiến tranh có lúc nào nguôi ngoai. (Ngõ nhỏ).

Những thân phận và nỗi đau chiến tranh được Trọng Bảo phản ánh ở những truyện ngắn mà đọc xong thấy day dứt không nguôi. Lão Vận trong “Người thổi tù và trên bến sông”, chị Thân trong “Chợ chiều”, dì Vân trong “Những lá thư”, chị Xuyến trong truyện cùng tên… Những con người đã sống trong cảnh đời bất hạnh ở một vùng quê yên ả, thanh bình và mỗi người có mỗi số phận và nỗi đau riêng. Ông Vận vốn làm nghề chèo đò, sống lặng lẽ trong túp lều nhỏ trên bến sông, khi người ta xây cây cầu thì lão trở thành người quét chợ. Lão sống vật vờ, không còn người thân vì vợ con lão đã chết bởi bom Mỹ, chỉ còn có con chó mà lão cứu được khi nó bị thả trôi sông là thân thiết. Chỉ đến khi người Bí thư Tỉnh ủy trở lại bến đò xưa, nhớ đến người lái đò, thì thân phận lão Vận mới được mọi người biết đến, lão là người có công với cách mạng. Còn chị Thân vốn là một trung đội trưởng dân quân, tình yêu nghiệt ngã đưa chị đến với một kẻ Sở Khanh rồi có thai. Sau đó chị đi thanh niên xung phong, hết chiến tranh trở về quê lấy chồng là bộ đội công binh. Trong những năm tháng chiến tranh, chị đã bị nhiễm chất độc da cam/điôxin hay chồng bị nhiễm chị cũng không biết, chỉ có sự thật là đứa con sinh ra bị dị tật, không hình thù người. Chị Thân sống đơn côi dưới chân núi Sáng, không chế độ đãi ngộ. Cuộc đời đau khổ, nhưng chị chấp nhận, không kêu ca, tự kiếm sống để nuôi thân. Còn chuyện của dì Vân thật cảm động, hy sinh cả thời xuân sắc của mình để thay chị động viên người lính yên tâm chiến đấu trên chiến trường. Câu chuyện tình qua những lá thư thấm đẫm nước mắt, có kết cục buồn vì cả dì Vân và người lính đều lẻ bóng trong đời. Chuyện chị Xuyến là một trong những góc khuất của chiến tranh, khi cả người chồng và người tình đều hy sinh ở chiến trường. Đọc truyện, ta dễ cảm thông với chị và thương anh Phán, một thanh niên-người lính thật thà, chất phác phải rơi vào cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”. Nếu không có chiến tranh, khó ai có thể tha thứ cho chị Xuyến.

Số phận người lính và con người sau chiến tranh còn khắc nghiệt hơn nhiều khi đất nước chuyển sang thời cơ chế thị trường, đồng tiền khuynh đảo những giá trị cuộc sống, làm tha hóa một bộ phận con người trong xã hội. Trên đường phát triển đất nước, những khu công nghiệp mới mở, đô thị hóa làm cho giá đất tăng vọt, đồng tiền làm cho những giá trị tình cảm lâu bền trong gia đình bị tan vỡ. Đó là bi kịch trong gia đình bà Chi, một người vợ liệt sĩ, một người dâu hiền, người chị tần tảo hy sinh cả đời cho gia đình nhà chồng. Nỗi đau và sự khắc nghiệt do đồng tiền gây ra đã lột tả trong truyện ngắn “Ngôi nhà giữa phố”. Ngay trong quân đội, những tiêu cực, bất công vô lý cũng xảy ra, điển hình như trong truyện “Cơn mưa cuối chiều”, thật đau đớn khi người vợ lính thốt lên “Nhưng làm gì có chuyện vô lý như thế, thượng úy thì được chia nhà, thượng tá thì không. Chả đơn vị nào người ta lại làm ăn vớ vẩn như thế cả”. Thế mà có chuyện ấy, dù ông Đống-nhân vật trong truyện có thành tích chiến đấu, huân chương, huy chương đầy người. Còn những số phận người lính khác như Nhân, bị thương tật do chiến tranh đến nỗi người đời phải gọi là “Dị Nhân”, có thành tích chiến đấu, sau chiến tranh phải đi làm thuê kiếm sống, nhưng cũng rất bấp bênh, sẵn sàng bị chủ đuổi việc (Dị nhân). Hay chuyện của chị Thùy, người lính vận tải năm xưa sẵn lòng đi làm “ô-sin” ở phố (Chuyện của một thời). Điều đáng quý nhất ở những người lính, đó là lòng tự trọng, họ chấp nhận số phận và không ngừng tự lao động để vươn lên. Tuy không viết về người lính, nhưng truyện ngắn “Đồng tiền lá đa” được tác giả chọn là tiêu đề cả tập truyện nhằm tập trung cho chủ đề: Mỗi con người, mỗi số phận sau chiến tranh, dù phải chịu những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội nhưng vẫn giữ trọn vẹn những giá trị nhân văn, nhân bản của con người, đó là truyền thống tạo nên cội nguồn tinh thần cho mỗi con người, từng gia đình và xã hội.

“Đồng tiền lá đa” thấm đẫm tình đời, tình người. Cách viết của Trọng Bảo chân thật, dễ hiểu, anh để cho từng nội dung câu chuyện gây xúc động cho bạn đọc. Chủ đề của những truyện ngắn trong tập đã được nhiều nhà văn trong và ngoài quân đội khai thác, nhưng Trọng Bảo vẫn tìm được ra cái riêng của mình, đó là sự hồn hậu, trong sáng, gây được ấn tượng với bạn đọc. Khi đọc những dòng hội thoại giữa hai bà mẹ liệt sĩ thế này, ai trong lòng cũng rưng rưng:

“Vịn tay lên mép bàn thờ, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và cái khung kính gài đỏ những huân, huy chương của con, bà Miên chợt kêu lên: -Thôi chết!Chả còn giữ được cái ảnh nào của thằng Thái cả!

Bà Cần lập cập: -Còn… vẫn còn đây! Bà rút từ túi áo ra một tấm ảnh tày ba ngón tay. Thằng Thái chụp chung với thằng Quốc khi mới nhập ngũ. Hai thằng mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, miệng cười toe toét” (Ngõ nhỏ).

Xen kẽ những chuyện về chiến tranh và người lính, Trọng Bảo đã lựa chọn truyện ngắn lịch sử “Bến sông xưa” và những truyện đầy lãng mạn “Hương rừng”, “Mưa rừng”; nói về sự đời, tình người trong “Học trò cũ”, “Chuỗi thời gian”, “Chân trời xa”, “Trang trại ma gà” hay “Truyện viễn tưởng” ở đó có tiếng cười xa xót. Những truyện ngắn trên góp phần làm cho tập truyện không đơn điệu, khô cứng, mà gấp sách lại người đọc không thể quên ngay…

12-2008

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2009

Đi vào "Thăm thẳm cõi người"


Bước vào năm Kỷ Sửu-2009, nhà thơ Hà Cừ tròn một chu kỳ hoa giáp đời người và đủ để anh chiêm nghiệm, nhìn lại đường thơ của mình. Điều đó là dễ hiểu khi anh đặt tên tập thơ riêng thứ ba của mình là "Thăm thẳm cõi người" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2008. Tập hợp 32 bài thơ sáng tác chủ yếu trong ba năm trở lại đây, được chia làm hai phần: "Cõi người" và "Thăm thẳm", cùng với những tự bạch về thơ, thấy anh rất trách nhiệm, nghiêm túc với công việc làm thơ, bền bỉ một đời với thơ. Hà Cừ cũng "vịn vào thơ" để nói nên những suy tư, tình yêu cuộc sống và nghĩ suy về nhân tình thế thái.

Ở khoảng chiều cuộc đời, vào tuổi "tri thiên mệnh" Hà Cừ thấy "rợn" bóng thời gian, nên anh tâm sự: "Rợn mình đã ngoại mấy mươi/Chiều thu nắng quái, nét cười chân chim/Ngửa tay con sóng nổi chìm/Hư vô năm tháng còn in cõi người" (Sóng giữa lòng tay)

Bài thơ này của anh khiến tôi liên tưởng tới nhà thơ Tô Hà-người đã gói cả niềm yêu thơ, một đời thơ vào tập thơ chọn mang cùng tên "Sóng giữa lòng tay". Một đời nổi chìm với những lo toan, vui buồn, với miệt mài sáng tạo. Đã thành quy luật, ai rồi cũng hư vô, trở về cát bụi. Vậy những năm tháng được sống phải sống thế nào, để lại gì in vào "cõi người" trước hư vô? Khi nhìn lại những tấm danh thiếp, chứng nhân của những mối quan hệ, những cuộc quen biết và gặp nhau trên đường đời, anh đã day dứt: "Ta ngồi đếm danh thiếp/Như đếm những vui buồn/Lòng bâng khuâng tự hỏi/"Thiếp nào danh không còn"?(Danh thiếp)

Nhà thơ Hà Cừ nhận thấy giữa dòng đời bon chen có bao điều thật giả lẫn lộn, lộn sòng giữa cái xấu và cái tốt. Có những giá trị giả lại được tôn vinh, đề cao; có người trước danh lợi từ đang thù thành bạn thân, từ mang ân thành kẻ phản phúc. Hà Cừ khi luận bàn về nhân tình, thế thái thường là nêu vấn đề, anh không đi đến cùng mà dành phần nghĩ suy cho bạn đọc. Có khi anh trực diện bàn luận trong các bài "Danh-Lợi", "Danh thiếp", "Mê lộ", "Ai biết". Có khi anh mượn các loài hoa, cả hoa hồng, hoa giấy, hoa giả... Như: "Trọn một kiếp hoa giả/Cũng rực rỡ sắc màu/Cũng cắm trong bình sứ/Thật-giả khác chi nhau"(Hoa giả); "Cứ gọi là hoa giấy/Nhưng phải là giấy đâu?/Cả một đời dâng hiến/Gọi tên là thấy đau!" (Trước giàn hoa giấy).

Cũng như nhiều nhà thơ đã làm, Hà Cừ lấy cảm hứng lịch sử để bàn luận về nhân tình thế thái, xã hội hiện tại, về "cõi người" đang sống. Anh luận về "vọng phu" để nói về tình yêu thời hiện đại; lấy chuyện Gióng lập công lớn, mải đánh giặc Ân mà chưa kịp lo cho mẹ già; là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nhà giáo Chu Văn An, hay Nguyễn Du... mỗi người một khía cạnh để anh bàn thế sự, lòng người. Là nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí, lại là nhà thơ nên đến đâu anh cũng có thơ để ghi những cảm xúc, nói những nghĩ suy của mình, từ chuyện ăn xin ở xứ người, đến tấm tình ở Sa Pa, Tam Đảo. Đặc biệt, khi đến Trung Quốc thăm nhà thờ họ Khổng, anh đã chỉ ra hạn chế ở tư tưởng "trọng nam, khinh nữ": "Khổng Tử mấy nghìn năm vẫn sống giữa cõi người/Có ai biết trên bàn thờ họ Khổng/Mẹ đẻ không thờ-Khổng Tử chỉ thờ cha?"(Gặp ở Khổng miếu).

Đọc Hà Cừ qua các tập thơ "Gió chân mây", "Dòng sông năm tháng" và ở những tập thơ in chung, tôi yêu thích anh ở sự chân thật, dung dị, đằm thắm, nhẹ nhàng và rất tinh tế: "Chợ quê con tép cũng gầy/Con cua, con cá dính đầy bùn tươi" (Chợ quê); hay: "Trời chiều lắc rắc hạt mưa/Bờ tre quyện khói đường thưa bóng người/Bếp nhà ngọn lửa hồng tươi/Mẹ ngồi rang cốm tháng mười cho con" (Ngày xưa hương cốm). Ở "Thăm thẳm cõi người", anh vẫn còn nhiều bài thơ như thế, tuy có trải nghiệm, suy xét nhiều hơn. Dễ hiểu vì chính anh cũng nhận thấy: "Năm tháng qua nhanh/Ta không thể nào ngờ/Cả anh và em bây giờ đã khác" (Tháng năm này không lặp lại đâu em). Và, "Bờ sông sóng vẫn dạt dào/Cỏ xanh dẫn lối lạc vào bến xưa/Giật mình tiếng võng nhẹ đưa/Tiếng bà ru cháu giữa trưa nắng vàng..." (Thăm bến sông xưa).

Trải nghiệm một đời mới thấy lòng người "thăm thẳm". Người bước về xế chiều thường hay nhớ về quá khứ, với những vui buồn, được mất. Hà Cừ cũng vậy. Anh nhớ về dòng sông, bến sông, triền đê, đồng cải quê nhà, nhớ những kỷ niệm thời tuổi trẻ, những miền đất đã đi qua. Anh thổn thức: "Năm trước cùng nhau đi chợ hoa/Năm nay đào đã thắm bên nhà/Thăm thẳm một trời, thăm thẳm gió/Giữa cõi xuân người, ta lạc ta!" (Lạc). Hay: "Sóng vỗ bờ xa, mây trắng bay/Con đường nhuộm tím sắc hoa may/Dấu chân ngày ấy còn lưu giữ?/Triền đê thao thức cỏ dâng đầy!" (Dấu chân trong cỏ). Hà Cừ ngậm ngùi khi lòng người và vạn vật thay đổi bởi thời gian: "Lặng nghe/Trời đất hao gầy/Hoàng hôn/Vàng/Đã rụng đầy/Bến sông/Bờ xa/Cải đã trổ ngồng/Cô đơn/Con sóng vỗ lòng/Người dưng!..." (Sóng). Thơ Hà Cừ trữ tình, tràn đầy niềm cảm thông với những phận người, vì thế dễ lắng đọng trong lòng người đọc: "Chiều hôm/Em bước xuống đò/Gió xô từng đợt/Xé vò bờ lau/Luênh loang/Giọt nắng đổi màu/Có người ngược gió/Gánh sầu/Mòn vai!" (Gió bờ lau).

Trong "Thăm thẳm cõi người", Hà Cừ có nhiều tâm sự về nghề, về thơ, những nỗi truân chuyên của người "phu chữ". Anh viết về nhà văn Phù Thăng để nói về nghiệp văn: "Tôi nhìn ra cánh đồng/Cánh đồng thăm thẳm xanh/Nhìn lên bầu trời/Bầu trời thăm thẳm cao" (Trong một chiều yên lặng). Anh theo đuổi văn chương, nhưng chưa đạt mong muốn, còn trăn trở tìm cho riêng mình con đường sáng tạo, nhất là trong thơ: "Tôi lơ ngơ/Lạc trong vườn ổi/Ngập tràn hương thơm/Không tìm ra/ Quả chín riêng mình/Mùa thu đi qua/Quả chín không còn/Giờ trở lại/Vườn xào xạc lá/ Cây hóa bơ vơ." (Hương ổi vườn xưa).

So với các tập thơ trước của Hà Cừ, "Thăm thẳm cõi người" thâm trầm, chững chạc hơn, tuy nhiên chưa thật sự hay hơn, nhiều bài còn khô cứng do anh "tự loại bớt hoa lá tươi xanh" để " bài thơ gọn lại, câu thơ chắc hơn" (Vũ Quần Phương). Hà Cừ hay hơn ở những bài thơ trữ tình, dung dị, nhẹ nhàng, có chất dân gian truyền thống, vì thế bạn đọc dễ nhớ và dễ thuộc. Anh đã cố gắng làm mới mình, tìm tòi sáng tạo trong từng bài thơ, dễ nhận thấy trong cách ngắt câu của thể thơ lục bát. Trong 32 bài thơ, có đến 28 bài anh sử dụng dấu chấm than (!) và gần bằng đó dấu hỏi chấm(?), ngay cả ở những câu lục bát. Dùng nhiều, nhưng không phải chỗ nào chúng cũng đắc địa, thậm chí còn cản trở cho sự cảm nhận thơ anh của bạn đọc. Bằng sự chiêm nghiệm, vốn sống phong phú, bạn đọc hy vọng ở Hà Cừ trong những tác phẩm mới thâm trầm, sâu lắng và cũng thơ hơn, trữ tình hơn, tránh những triết luận khô cứng mà nhiều người đang cho rằng cách tân, "trí tuệ hóa" thơ./.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

THÂN PHẬN, TÌNH NGƯỜI TRONG TỪNG MẢNH “KÝ ỨC VỤN”



Văn đàn thời gian qua dường như xáo động bởi cuốn tạp văn chọn lọc của nhà văn Nguyễn Quang Lập có nhan đề “Ký ức vụn” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phối hợp với Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản. Sau hai mươi năm, kể từ cuốn “Những mảnh đời đen trắng”, Nguyễn Quang Lập mới lại ra sách, điều đó khiến bạn bè văn chương, bạn đọc mừng cho anh. Thực ra, “Ký ức vụn” đã được bạn đọc đón nhận từ khi những bài viết trong tập được tác giả công bố trên blog của mình. Chính những bài viết đó khiến blog “Quê choa” của Nguyễn Quang Lập được nhiều người chú ý, hàng vạn người truy cập mạng để đọc tác phẩm của anh. Vì những điều đó, có người đã nói “Ký ức vụn” là tác phẩm văn học mạng đúng nghĩa.

Khi sách phát hành, “Ký ức vụn” được giới thiệu tại Nhà sách Đông-Tây (Nhà 11A-Trần Quý Kiên, Hà Nội) trong tình cảm nồng ấm của bạn bè và bạn đọc. Rồi Công ty sách Phương Nam tổ chức riêng buổi ký tên lưu niệm vào sách cho bạn đọc tại Nhà sách Phương Nam Book (20-Lý Thái Tổ, Hà Nội). “Ký ức vụn” được bạn đọc đón nhận với tình cảm thân thiết như người thân trở về nhà. Và, người thân ấy rất đời thường, có chút nghiêm túc, bông lơn, “người ấy” hay nói phương ngôn với giọng rất Quảng Bình, ngay cả khi nói tục hơi thái quá. Nhưng nổi bật trong “Ký ức vụn” là những thân phận, tình người dù họ ở tầng lớp thượng lưu, giới văn nghệ sĩ hay chỉ là những người làng xóm, sống xung quanh mình những ngày thơ ấu hoặc người đã gặp trên đoạn đường đời mưu sinh.

Tôi đã thật cảm động khi đọc chuyện “Ký ức năm hào”, một kỷ niệm không thể phai mờ trong ký ức Nguyễn Quang Lập. Nhân vật trong chuyện là cô bé 11 tuổi, bị bom Mỹ sát hại khi cầm năm hào đi chợ. Chuyện “Con chó Giôn” giống cái truyện “Lão Hạc” của Nam Cao, nhưng đọc thấy hiện lên một thời lam lũ, nghèo khó khắc sâu ngay cả trong giấc mơ trẻ thơ. Nguyễn Quang Lập kể chuyện tự nhiên, tưng tửng, đọc rồi tự cười một mình, nhưng mà sâu, mà cay, mà thương cho những nhân vật, bởi đó là những con người có thật như đang sống quanh mình. Những thằng Á, thằng Thanh, thằng Tụy, rồi “thằng sứt môi”, “thằng hai đầu gối”, “con ăn ruồi”; từ những anh cu Cá, cu Luật, cu Đo, cu Hoi, cu Hó, đến những bà Thiêm, cô Thi, chị Du, anh Thu... trong họ có những đức tính tốt, xấu, có những mâu thuẫn trái ngược nhau. Người hám danh, hám lợi; người lành hiền, thật thà; người quỷ quyệt, xảo trá... Nhưng những con người đó làm nên một đời sống xã hội đa dạng, đa chiều; toát lên vẻ đẹp hồn quê và cũng làm sống lại một thời ký ức chiến tranh trên vùng đất lửa Quảng Bình. Trên vùng đất ấy đã có những mảnh đời, những phận người khác nhau, họ rất bình thường. Có người để lại tấm tình sâu sắc, có người “đi như hạt bụi giữa không trung”. Làm sao không tình, khi anh Á bị chị Du từ chối tình yêu, quyết không lấy làm chồng khi còn ở làng, đến khi đi bộ đội hy sinh, chị lại để tang anh: “Chị cuốn cái tang trắng trên đầu, đi từ đầu làng đến cuối xóm, mặc kệ ai muốn nói gì thì nói”. Cái tình của Hoàn trong chuyện “Thằng sứt môi” đọc chảy nước mắt. Nguyễn Quang Lập khéo gợi cái tình cả trong những con người khùng khùng, điên điên; gạn trong họ chất NGƯỜI để mà sống, mà chiêm nghiệm, để “lòng ta trong sáng hơn”.

“Ký ức vụn” dành hơn nửa số trang viết về giới văn nghệ sĩ, đó là những nhà văn, nhà thơ, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ... Không hẳn đó là những hồi ký, mảnh hồi ức, nhưng qua các chuyện của Nguyễn Quang Lập kể, ta hình dung ra đời sống sinh hoạt của họ, nhất là các bạn văn ở Huế, nơi một thời anh từng công tác ở Hội địa phương. Viết về họ, Nguyễn Quang Lập không đánh giá, không khái quát sự nghiệp văn chương, không đi sâu vào tác phẩm, anh chỉ nói về cái tình, vẽ chân dung qua một vài tính cách của họ. Những chuyện như thế, bạn đọc hiểu thêm một phần đời sống của người làm văn học-nghệ thuật, cho dù là họ đã thành danh, tác phẩm của học đã đi vào tâm trí người đọc. Người đọc sẽ nhớ dai cái vỗ vai của Nguyễn Khải, lời khen thường trực của Hữu Thỉnh, tài nói chuyện của Trần Đăng Khoa, sức hấp dẫn trong lối đọc thơ và chuyện nợ rượu của Phùng Quán, sự cẩn thận, trau truốt câu từ của Hoàng Phủ Ngọc Tường; hay về sự say của Nguyễn Trọng Tạo, cái lơ ngơ duyên dáng của Tuyết Nga, con người điên điên khùng khùng của Bùi Giáng… Mỗi người một tính cách, một “tật” riêng, điều đó gợi sự tò mò của bạn đọc. Nhưng trùm lên các trang viết ấy là cái tình, tính nhân bản vì sự nổi tiếng, những thành công của nghiệp văn, của tác phẩm đều bắt nguồn và xây dựng trên những cái đời thường, mà đôi khi người ta không biết dễ bỏ qua.

Nguyễn Quang Lập là người có tài trong cách kể chuyện, sử dụng khẩu ngôn linh hoạt và dân dã. Điều đó giúp anh được bạn đọc thích, nhất là những người mà hiện nay hay nói là “buôn dưa lê”. Anh cũng khéo kết hợp sử dụng lối kể chuyện dân gian trong tiếu lâm, sự hóm hỉnh trào lộng và tính thông tấn trong các bài viết. “Ký ức vụn” có năm phần, nhưng tôi thích những bài viết về những con người lam lũ ở quê, họ có những cá tính, cả sự không trọn vẹn về thân thể. Tôi thấy có mình ở “Thương nhớ mười ba”, đồng cảm ở sự day dứt khi “hồn quê” xa vắng. Tập sách này, Nguyễn Quang Lập lạm dụng nhiều những câu văn mà người ta cho là tục, đôi khi quá liều, dẫn đến sự tự nhiên chủ nghĩa. Đúng như tên tập sách, nhưng những mảnh ký ức của Nguyễn Quang Lập tưởng là vụn vặt nhưng chúng nói lên rất nhiều khía cạnh của xã hội, của văn chương và điều đó đáng để bạn đọc suy ngẫm./.

5-2009